Top List

Top 10 Trường đại học đứng đầu Thế giới

Trên thực tế, các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đã tập trung đào tạo các kỹ năng hữu ích cho tương lai như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sáng tạo và tư duy phản biện. Sự rèn luyện và kết hợp giữa các kỹ năng trở thành chiến lược giáo dục thiết yếu mà nhiều quốc gia hướng đến. Xếp hạng các trường đại học đứng đầu thế giới hàng năm để đánh giá các trường đại học đẳng cấp thế giới thì những nhà nghiên cứu dựa trên tất cả các nhiệm vụ cốt lõi của một trường đại học: giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao kiến thức và tầm nhìn quốc tế. Dựa trên sự thống kê các chỉ số này thì các trường đại học đứng đầu thế giới phù hợp cho việc đi du học của sinh viên Việt Nam hiện nay. Hãy cùng Wiki HDAD tìm hiểu về những trường đại học đứng đầu Thế giới qua bài viết dưới đây nhé! Mời bạn đọc cùng theo dõi,

Viện Công nghệ California (California Institute of Technology)

Viện Công nghệ California (thường gọi là Caltech) là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở Pasadena, California, Hoa Kỳ. Caltech có sáu đơn vị thành viên, hướng trọng tâm vào các ngành khoa học và kỹ thuật và là một trong những đại học hàng đầu thế giới. Khuôn viên chính rộng 50 hecta, nằm cách trung tâm thành phố Los Angeles chừng 18km về phía đông nam. Ban đầu được Amos G. Throop thành lập như một trường dự bị và dạy nghề vào năm 1891, ngôi trường này đã thu hút các nhà khoa học nổi tiếng đầu thế kỷ 20 như George Ellery Hale, Arthur Amos Noyes, và Robert Andrews Millikan. Hệ đào tạo dự bị và dạy nghề xóa bỏ từ năm 1910 và trường có tên như ngày nay từ năm 1921. Năm 1934, Caltech được gia nhập Hiệp hội Viện Đại học Bắc Mỹ. Những cơ sở tiền thân của Phòng Thí nghiệm Sức đẩy Phản lực của NASA sau này được thành lập trong khoảng từ 1936 đến 1943; ngày nay Caltech vẫn tiếp tục quản lý và vận hành phòng thí nghiệm này. Caltech là một trong số một nhóm nhỏ các viện công nghệ ở Hoa Kỳ có xu hướng tập trung chủ yếu vào các ngành kỹ thuật và khoa học ứng dụng.

Mặc dù có quy mô nhỏ, 72 cựu sinh viên và giảng viên Caltech đã được trao 73 giải Nobel (Linus Pauling là người đầu tiên trong lịch sử nhận 2 giải cá nhân), 4 huy chương Fields, 6 Giải Turing và 72 người đã nhận Huy chương Khoa học Quốc gia hay Huy chương Công nghệ và Sáng kiến Quốc gia của Hoa Kỳ, 112 giảng viên là viện sĩ của các Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ, 4 trưởng khoa học gia của Không quân Hoa Kỳ. Caltech quản lý 332 triệu đô-la tiền tài trợ nghiên cứu năm 2011 và nhận 2.93 tỷ đô-la tiền hiến tặng trong năm 2018. Caltech cũng là một đối thủ cạnh tranh lâu năm của Viện Công nghệ Massachusetts. Năm 2012 – 2013, Caltech xếp thứ nhất thế giới trong bảng xếp hạng các viện đại học của Times Higher Education. Khởi đầu, Caltech là một trường dạy nghề do Amos G. Throop, một chính trị gia và một doanh nhân, thành lập ở Pasadena vào năm 1891. Ngôi trường sau đó được biết đến với các tên gọi Viện Đại học Throop (Throop University), Viện Bách khoa Throop (Throop Polytechnic Institute and Manual Training School) và Trường Đại học Công nghệ Throop (Throop College of Technology), trước khi được đổi thành tên gọi Viện Công nghệ California (Caltech) vào năm 1920. Ngôi trường dạy nghề ban đầu bị giải tán và chương trình dự bị đại học được tách ra để thành lập Trường Bách khoa (Polytechnic School) độc lập vào năm 1907.

Địa chỉ: 1200 E California Blvd, Pasadena, CA 91125, Hoa Kỳ.

Viện Công nghệ California
Viện Công nghệ California
Viện Công nghệ California

Trường đại học Oxford (University of Oxford)

Viện Đại học Oxford còn gọi là Đại học Oxford, là một trong những viện đại học nghiên cứu liên hợp ở Oxford, Anh. Mặc dù ngày thành lập của Oxford chưa được xác định, có bằng chứng cho thấy hoạt động giảng dạy đã diễn ra từ tận năm 1096. Oxford là viện đại học lâu đời nhất trong thế giới nói tiếng Anh và là viện đại học lâu đời thứ hai đang còn hoạt động trên thế giới. Oxford phát triển mạnh kể từ năm 1167 khi Vua Henry II ra lệnh cấm sinh viên Anh đến học tại Viện Đại học Paris ở Pháp. Sau những cuộc tranh cãi giữa một số học giả và cư dân Oxford trong năm 1209, họ chuyển đến Cambridge, phía đông bắc của Oxford, và thành lập một hội đoàn, sau này trở thành Viện Đại học Cambridge. Hai viện đại học lâu đời này của nước Anh thường được gọi chung là “Oxbridge.” Viện Đại học Oxford được tạo thành bởi nhiều cơ sở khác nhau, trong đó có 38 trường đại học thành viên và một loạt các khoa học thuật được tổ chức thành bốn phân khoa đại học. Tất cả các trường đại học này là các cơ sở tự điều hành và là một phần của viện đại học; mỗi trường đại học tự kiểm soát việc thu nhận thành viên và có thẩm quyền đối với cấu trúc tổ chức nội bộ cũng như những hoạt động của chính mình. Là một viện đại học ở nội thị, Oxford không có khuôn viên chính, những tòa nhà và cơ sở vật chất của viện đại học nằm rải rác khắp trung tâm thành phố.

Phần lớn hoạt động giảng dạy ở bậc đại học được thực hiện thông qua những buổi học và thảo luận hàng tuần tại các trường thành viên; thêm vào đó là những buổi học, bài giảng, và buổi thực hành trong phòng thí nghiệm do các khoa và phân khoa của viện đại học tổ chức. Oxford là nơi ra đời của một số học bổng danh tiếng, trong đó có Học bổng Clarendon hoạt động từ năm 2001 và Học bổng Rhodes trong hơn một thế kỷ qua đã giúp đưa sinh viên ưu tú bậc sau đại học từ các nước đến học tại Oxford. Trong số những cựu sinh viên của Oxford có 27 người được giải Nobel, 26 thủ tướng Anh, và nhiều nguyên thủ quốc gia ở các nước khác. Oxford là thành viên của Nhóm Russell các viện đại học nghiên cứu ở Anh, Nhóm Coimbra, Nhóm G5, Liên đoàn các Viện Đại học Nghiên cứu Âu châu và Liên mình Quốc tế các Viện Đại học Nghiên cứu, cũng là thành viên cốt cán của Europaeum và thuộc “Tam giác vàng” (gồm ba viện đại học nghiên cứu hàng đầu ở Anh: Cambridge, London, và Oxford) của hệ thống giáo dục đại học Anh. Trong danh sách dài các nhân vật xuất chúng của Đại học Oxford có nhiều người người nổi bật trong chính trường, các ngành khoa học, y học, và văn chương Anh. Hơn 40 khôi nguyên Giải Nobel và hơn 50 nhà lãnh đạo thế giới từng có mối quan hệ với Đại học Oxford.

Địa chỉ: Oxford OX1 2JD, Vương quốc Anh.

Khung cảnh trên cao Đại học Oxford
Khung cảnh trên cao Đại học Oxford
Trường đại học Oxford
Trường đại học Oxford

Đại học Stanford (Stanford University)

Viện Đại học Leland Stanford Junior, thường được gọi là Viện Đại học Stanford hay Stanford, là viện đại học tư thục thuộc khu vực thống kê Stanford, California (Hoa Kỳ). Stanford được biết đến với sức mạnh học tập, sự giàu có, gần gũi với Thung lũng Silicon và được xếp hạng là một trong những trường đại học hàng đầu thế giới. Khuôn viên chính của viện đại học này rộng rãi và đẹp đẽ, nằm cách San Francisco 60 kilômét về phía đông nam, nó ở phần chưa được sáp nhập của Quận Santa Clara bên cạnh thị trấn Palo Alto, và nằm ở trung tâm Thung lũng Silicon cả về vị trí địa lý và lịch sử. Là viện đại học có diện tích lớn thứ hai trên thế giới, Viện Đại học Stanford có chương trình đầy đủ cho sinh viên đại học cũng như sinh viên sau đại học, cùng với một trung tâm y khoa nổi tiếng và nhiều trung tâm nghiên cứu và dự án phục vụ. Cùng với Viện Đại học Harvard, Viện Đại học Yale và Viện Đại học Princeton, Viện Đại học Stanford nằm trong nhóm những viện đại học tốt nhất của Hoa Kỳ.

Viện Đại học Stanford được thành lập bởi Leland Stanford, trùm tư bản về đường xe lửa và Thống đốc California, và vợ ông, Jane Stanford. Viện đại học được đặt theo tên người con duy nhất của hai vợ chồng, Leland Stanford, anh chết do bệnh thương hàn khi còn trẻ. Những người dân địa phương và các thành viên của viện đại học thường gọi trường là The Farm (“Trại”), vì trường nằm tại địa điểm đã từng là trại nuôi ngựa của Leland Stanford. Giấy phép thành lập Viện Đại học Stanford được viết ngày 11 tháng 11 năm 1885 và được chấp nhận bởi Ban Quản trị đầu tiên ngày 14 tháng 11. Viên đá móng được đặt xuống ngày 14 tháng 5 năm 1887 và trường mở cửa chính thức ngày 1 tháng 10 năm 1891 đón 559 sinh viên. Học phí được miễn. Có 15 giáo sư, trong đó bảy giáo sư đến từ Đại học Cornell. Trường được thành lập với danh nghĩa cơ sở đào tạo hỗn hợp cho cả nam và nữ, nhưng trong nhiều năm, họ vẫn hạn chế số sinh viên nữ nhập học. Khẩu hiệu chính thức của Viện Đại học Stanford, do gia đình Stanford lựa chọn, là Die Luft der Freiheit weht. Dịch từ tiếng Đức, câu nói này của Ulrich von Hutten có nghĩa “Gió của tự do thổi.” Vào lúc viện đại học được thành lập, tiếng Đức vừa mới thay thế tiếng Latinh trong vai trò ngôn ngữ chính của khoa học và triết học.

Địa chỉ: 450 Serra Mall, Stanford, CA 94305, Hoa Kỳ.

Đại học Stanford
Đại học Stanford
Đại học Stanford
Đại học Stanford

Đại học Cambridge (University of Cambridge)

Viện Đại học Cambridge còn gọi là Đại học Cambridge, là một viện đại học nghiên cứu liên hợp danh giá tại Cambridge, Vương Quốc Anh. Được thành lập vào năm 1200 và được Vua Henry III ban đặt quyền hoàng gia năm 1231. Cambridge là viện đại học lâu đời thứ hai trong thế giới nói tiếng Anh, chỉ sau Viện Đại học Oxford, và là viện đại học lâu đời thứ tư trên thế giới hiện đang hoạt động. Cambridge hình thành từ một nhóm học giả đã rời bỏ Viện Đại học Oxford sau khi xảy ra tranh cãi giữa những người này với cư dân địa phương. Hai “viện đại học cổ xưa” này có nhiều điểm tương đồng nên thường được gọi bằng tên chung “Oxbridge”. Cambridge được tạo thành bởi một loạt các cơ sở khác nhau, bao gồm 31 trường đại học thành viên và hơn 100 khoa học thuật được tổ chức thành sáu trường. Các tòa nhà của viện đại học nằm khắp thành phố, nhiều trong số đó rất có giá trị lịch sử. Các trường đại học này là những cơ sở tự điều hành, được thành lập như là những phần cấu thành viện đại học. Vào năm 2014, viện đại học có tổng thu nhập là 1,51 tỉ bảng Anh, trong đó 371 triệu bảng là từ các hợp đồng và các khoản tài trợ nghiên cứu.


Viện đại học Cambridge và các trường thành viên có tổng cộng 4,9 tỉ bảng Anh trong các quỹ hiến tặng, con số lớn nhất ở bất cứ viện đại học nào bên ngoài Hoa Kỳ. Cambridge là thành viên của nhiều hiệp hội và là một phần của “Tam giác vàng” – ba viện đại học hàng đầu ở Anh: Cambridge, London và Oxford. Sinh viên Cambridge học qua những bài giảng và những buổi thực hành trong phòng thí nghiệm do các khoa tổ chức dưới sự giám sát của các trường đại học. Cambridge điều hành tám viện bảo tàng nghệ thuật, văn hóa và khoa học, bao gồm Viện Bảo tàng Fitzwilliam và một vườn bách thảo. Các thư viện của Cambridge có tổng cộng khoảng 15 triệu cuốn sách. Nhà xuất bản Viện Đại học Cambridge, một bộ phận của viện đại học, là nhà xuất bản lâu đời nhất thế giới và là nhà xuất bản lớn thứ hai thế giới do một viện đại học điều hành. Cambridge thường xuyên được xếp là một trong những viện đại học hàng đầu thế giới trong các bảng xếp hạng. Cambridge có nhiều cựu sinh viên nổi tiếng, trong đó có một số nhà toán học, khoa học và chính trị gia kiệt xuất; Cambridge đã sản sinh ra hơn 100 nhân vật đạt giải Nobel, nhiều hơn bất kỳ trường đại học nào trên thế giới. Trong suốt lịch sử của mình, viện đại học được miêu tả trong nhiều tác phẩm văn chương và nghệ thuật của nhiều tác giả trong đó có Geoffrey Chaucer, E. M. Forster và C. P. Snow.

Địa chỉ: The Old Schools, Trinity Ln, Cambridge CB2 1TN, Vương quốc Anh.

Khung cảnh tuyệt đẹp của Đại học Cambridge
Khung cảnh tuyệt đẹp của Đại học Cambridge
Đại học Cambridge
Đại học Cambridge

Viện Công nghệ Massachusetts (Massachusetts Institute of Technology)

Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở thành phố Cambridge, bang Massachusetts, Hoa Kỳ. MIT nổi tiếng nhờ hoạt động nghiên cứu và giáo dục trong các ngành khoa học vật lý, kỹ thuật, cũng như trong các ngành sinh học, kinh tế học, ngôn ngữ học, và quản lý. MIT được thành lập vào năm 1861 nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa của Hoa Kỳ, dựa trên mô hình viện đại học bách khoa (polytechnic university) và nhấn mạnh đến việc giảng dạy trong phòng thí nghiệm. MIT ban đầu nhấn mạnh đến các ngành công nghệ ứng dụng ở bậc đại học và sau đại học, và chính điều này giúp thiết lập sự hợp tác gần gũi với các công ty công nghiệp. Những cải cách chương trình học dưới thời các Viện trưởng Karl Compton và Vannevar Bush trong thập niên 1930 nhấn mạnh các ngành khoa học cơ bản. MIT gia nhập Hiệp hội Viện Đại học Bắc Mỹ vào năm 1934. Các nhà nghiên cứu ở MIT nghiên cứu và thiết kế máy tính, radar, và hệ thống định vị trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai và thời Chiến tranh lạnh. Hoạt động nghiên cứu quốc phòng thời hậu chiến đã đóng góp vào sự gia tăng nhanh chóng số lượng giảng viên và sự phát triển của khuôn viên viện đại học dưới thời Viện trưởng James Killian. Khuôn viên hiện tại rộng 168 mẫu Anh (68,0 ha) mở cửa vào năm 1916 và mở rộng hơn 1,6km theo bờ bắc con sông Charles.

Ngày nay MIT bao gồm nhiều khoa học thuật khác nhau, nhấn mạnh đến nghiên cứu và giáo dục trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, quản lý và khoa học xã hội. MIT có năm trường (Trường Khoa học, Trường Kỹ thuật, Trường Kiến trúc và Quy hoạch, Trường Quản lý, và Trường Nhân văn, Nghệ thuật, và Khoa học Xã hội) và một trường đại học (Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Y tế), bao gồm tổng cộng 32 khoa. Viện đại học này có 93 người được giải Nobel, 25 người nhận giải thưởng Turing, 58 người nhận Huân chương Khoa học Quốc gia (National Medal of Science), 29 người nhận Huân chương Công nghệ và Sáng tạo Quốc gia (National Medal of Technology and Innovation) 45 Học giả Rhodes (Rhodes Scholars) và 50 Học giả MacArthur (MacArthur Fellows). MIT và cựu sinh viên đóng vai trò lớn trong nhiều phát kiến khoa học công nghệ hiện đại. Viện MIT cũng là một đối tác nghiên cứu quốc phòng quan trọng của chính phủ Mĩ, đặc biệt trong các dự án về hạt nhân, khoa học không gian, khoa học máy tính và công nghệ nano. 41 cựu sinh viên MIT đã trở thành phi hành gia của Hoa Kì và các nước khác. Trong số 12 người đã từng đặt chân lên Mặt Trăng, 4 trong số đó có bằng cấp từ MIT. MIT là một trong những cơ sở giáo dục bậc cao có tiêu chuẩn tuyển chọn sinh viên khắt khe nhất; chẳng hạn, khóa sẽ tốt nghiệp vào năm 2016 có 1.620 sinh viên được tuyển chọn từ 18.109 thí sinh, như vậy tỷ lệ được nhận vào chỉ 8.95%.

Địa chỉ: 77 Massachusetts Ave, Cambridge, MA 02139, Hoa Kỳ.

Khung cảnh mùa đông của Viện Công nghệ Massachusetts
Khung cảnh mùa đông của Viện Công nghệ Massachusetts
Viện Công nghệ Massachusetts
Viện Công nghệ Massachusetts

Đại học Harvard (Harvard University)

Viện Đại học Harvard còn gọi là Đại học Harvard, là một viện đại học nghiên cứu tư thục, thành viên của Liên đoàn Ivy nằm ở Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ. Với lịch sử, tầm ảnh hưởng và tài sản của mình, Harvard là một trong những viện đại học danh tiếng nhất thế giới. Được thành lập vào năm 1636 bởi Cơ quan Lập pháp Thuộc địa Vịnh Massachusetts và không lâu sau đó đặt theo tên của John Harvard – người đã hiến tặng của cải cho trường, Harvard là cơ sở học tập bậc cao lâu đời nhất Hoa Kỳ. Mặc dù chưa bao giờ có mối quan hệ chính thức với bất kỳ giáo phái nào, Trường Đại học Harvard (Harvard College, sau này là trường giáo dục bậc đại học của Viện Đại học Harvard) trong thời kỳ đầu chủ yếu đào tạo các mục sư Kháng Cách thuộc hệ phái Tự trị Giáo đoàn. Chương trình học và thành phần sinh viên của trường dần dần trở nên có tính chất thế tục trong thế kỷ XVIII và đến thế kỷ XIX thì Harvard đã nổi lên như một cơ sở văn hóa chủ chốt của giới tinh hoa vùng Boston. Sau Nội chiến Hoa Kỳ, Charles W. Eliot trong nhiệm kỳ viện trưởng kéo dài nhiều năm của mình (từ 1869 đến 1909) đã chuyển đổi trường đại học này và các trường chuyên nghiệp liên kết với nó thành một viện đại học nghiên cứu hiện đại.

Trường Đại học Harvard trở thành cơ sở giáo dục dành cho cả nam lẫn nữ vào năm 1977 khi nó sáp nhập với Trường Đại học Radcliffe. Viện Đại học Harvard được tổ chức thành 11 đơn vị học thuật – 10 phân khoa đại học và Viện Nghiên cứu Cao cấp Radcliffe – với các khuôn viên nằm rải rác khắp vùng đô thị Boston: khuôn viên chính rộng 209 mẫu Anh (85 ha) nằm ở thành phố Cambridge, cách Boston chừng 3 dặm (4,8 km) về phía tây bắc; Trường Kinh doanh và các cơ sở thể thao, bao gồm Sân vận động Harvard, nằm bên kia sông Charles ở khu Allston của Boston còn Trường Y khoa, Trường Nha khoa và Trường Y tế Công cộng thì nằm ở Khu Y khoa Longwood. Trong số các tổng thống Hoa Kỳ, có tám người là cựu sinh viên Harvard; chừng 150 người được trao giải Nobel là sinh viên, giảng viên, hay nhân viên của viện đại học này. Ngoài ra, có 62 tỉ phú hiện đang còn sống và 335 Học giả Rhodes, hầu hết sống ở Hoa Kỳ, là cựu sinh viên Harvard. Thư viện Viện Đại học Harvard cũng là thư viện đại học lớn nhất ở Hoa Kỳ. Tính đến tháng 6 năm 2013, tổng số tiền hiến tặng mà Harvard có được là 32,3 tỷ đô-la, lớn hơn ở bất cứ cơ sở học thuật nào trên thế giới.

Địa chỉ: Cambridge, MA, Hoa Kỳ.

Mùa thu ở Đại học Harvard
Mùa thu ở Đại học Harvard
Đại học Harvard
Đại học Harvard

Đại học Princeton (Princeton University)

Viện Đại học Princeton còn gọi là Đại học Princeton, là một viện đại học tư thục tọa lạc ở Princeton, New Jersey, Hoa Kỳ. Princeton là viện đại học xếp thứ tư trong các trường và viện đại học cổ xưa nhất ở Hoa Kỳ và một trong tám trường và viện đại học của Ivy League. Được thành lập tại Elizabeth, New Jersey vào năm 1746 và mang tên Trường Đại học New Jersey (College of New Jersey), trường được dời về Newark năm 1747, sau đó về Princeton năm 1756 và đổi tên thành Viện Đại học Princeton (Princeton University) vào năm 1896. Trường hiện nay mang tên Trường Đại học New Jersey ở gần Ewing, New Jersey không có liên hệ gì với Viện Đại học Princeton. Princeton là một trong tám trường Ivy League, và một trong chín trường đại học thời thuộc địa được thành lập trước cuộc cách mạng Mỹ. Princeton cung cấp nhiều chương trình nghiên cứu sau đại học (đáng kể nhất là chương trình Tiến sĩ) và xếp hạng tốt nhất trong nhiều ngành, bao gồm toán, vật lý, thiên văn và vật lý plasma, kinh tế, lịch sử và triết học. Tuy vậy, trường không có một loạt các khoa đào tạo sau đại học như nhiều đại học khác – Princeton không có trường y khoa, trường luật khoa, hay trường quản trị kinh doanh.

Trường chuyên nghiệp nổi tiếng nhất là Trường Quan hệ Quốc tế và Công vụ Princeton (thường được học sinh gọi là “Woody Woo”) thành lập năm 1930. Trường cũng có các chương trình sau đại học trong các ngành kỹ thuật, kiến trúc và tài chính. hư viện trường có hơn 11 triệu đầu sách. Thư viện chính của trường, thư viện Firestone, chứa khoảng 4 triệu cuốn sách, là một trong những thư viện đại học lớn nhất trên thế giới (và trong các thư viện lớn nhất có “các kệ sách mở” đã từng tồn tại). Trong bộ sưu tập của nó có cả những bản sách vô giá như tập bài thuyết pháp Blickling. Bên cạnh Firestone, trường còn có nhiều thư viện chuyên ngành, bao gồm kiến trúc, lịch sử nghệ thuật, nghiên cứu Đông Á, kỹ thuật, địa lý, ngoại giao và chính sách công và nghiên cứu Cận Đông. Princeton xếp hạng 10 với số điểm 96.10 trong bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới năm 2013. Trong số những người Việt nổi tiếng có Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng đến nghiên cứu về tôn giáo so sánh (comparative religion) ở viện đại học này trong thập niên 1960.

Địa chỉ: Princeton, NJ 08544, Hoa Kỳ.

Đại học Princeton
Đại học Princeton
Đại học Princeton
Đại học Princeton

Imperial College London

Đại học Imperial London là một trường công lập nổi tiếng thuộc thệ thống Đại học London. Trường thành lập năm 1907 theo Hiến pháp Hoàng gia Anh Quốc. Sau hơn 100 năm hình thành và phát triển, Imperial College London đã trở thành một trong những trường hàng đầu về đào tạo ngành y học – chăm sóc sức khỏe và nhiều lĩnh vực khoa học khác. Thay vì đào tạo đa ngành, Đại học Hoàng gia London chọn cho mình hướng đi riêng là tập trung vào Khoa học và công nghệ. Trường có 4 khoa là: Khoa Kỹ thuật, Khoa Y Dược, Khoa Khoa học tự nhiên và khoa Kinh tê (thuộc trường Đại học Kinh doanh Hoàng gia). Imperial College London là mái nhà chung của gần 20.000 sinh viên, trong đó cộng đồng sinh viên quốc tế chiếm tới 59%, đến từ 140 quốc gia trên khắp thế giới. Khuôn viên chính của trường Imperial College tọa lạc tại South Kensington ở trung tâm London. Đây là một khu vực rộng lớn được thành lập như là một trung tâm văn hóa dành cho nghệ thuật, khoa học và âm nhạc.

Gần Trường Imperial là Hội trường Royal Albert, Bảo tàng Khoa học, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên và Bảo tàng Victoria và Albert. Vì vị trí thuận lợi, sinh viên có thể dễ dàng đến trường bằng cách phương tiện giao thông công cộng như tàu điện ngầm, xe bus và xe lửa. Ngoài ra, trường còn nằm gần 1 trong 3 sân bay lớn nhất ở Anh. Heathrow, Gatwick và Stansted tất cả đều có thể truy cập thông qua các dịch vụ đặc biệt. Trường có 9 cơ sở với trụ sở chính năm tại London, Anh Quốc. Khu nhà thể thao của trường Imperial LondonCollege bao gồm bốn phòng tập thể dục, hai bể bơi và hai phòng thể thao. Imperial có các cơ sở thể thao bổ sung tại các sân thể thao Teddington và Harlington. Tại cơ sở Nam Kensington, có tổng số 6 phòng thực hành âm nhạc được trang bị piano phục vụ nhu cầu của tất cả các học sinh. Có hai bar dành cho sinh viên trong khuôn viên trường South Kensington, một tại Imperial College Union và một tại Eastside.

Địa chỉ: Exhibition Rd, South Kensington, London SW7 2BX, Vương quốc Anh.

Khung cảnh làm việc bên trong Imperial College London
Khung cảnh làm việc bên trong Imperial College London
Đại học Imperial London
Đại học Imperial London

Viện Công nghệ liên bang Zurich (Federal Institute of Technology Zurich)

Viện Công nghệ liên bang Zurich – ETH Zürich, thường được gọi là Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ là một cơ sở giáo dục đại học về khoa học và kỹ thuật nằm ở Zürich, Thụy Sĩ. Tên toàn phần là Eidgenössische Technische Hochschule Zürich, với ETHZ cũng là một tên viết tắt không chính thức nhưng khá thông dụng. Người dân địa phương thường gọi đó là trường Bách khoa (Poly), từ tên gốc của nó Eidgenössisches Polytechnikum hay Federal Polytechnic Institute. Giống như trường École Polytechnique Fédérale de Lausanne (EPFL), nó có 3 nhiệm vụ chính: giáo dục, nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật ở mức quốc tế cao nhất. Cùng liên kết với một vài viện nghiên cứu chuyên môn khác, hai viện (ETH Zurich và EPF Lausanne) tạo thành vùng ETH, phụ thuộc trực tiếp vào Bộ Nội vụ của Liên bang.

Trường ETH được thành lập vào năm 1854 bởi Liên bang Thụy Sĩ và mở cửa vào năm 1855 như là một viện đại học bách khoa. Ban đầu nó chỉ bao gồm 6 phân khoa đại học: kiến trúc, kỹ thuật công chính, cơ khí, hóa học, lâm nghiệp và một khoa còn lại cho tất cả các ngành toán học, khoa học tự nhiên, văn học, các môn khoa học chính trị xã hội. Trường ETH là một viện liên bang (dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước Thụy Sĩ), trong khi Đại học Zurich là một viện cấp bang. Quyết định tạo ra một đại học liên bang mới đã gây ra nhiều tranh cãi vào thời gian đó, bởi vì những người tự do đã ủng hộ mạnh mẽ cho “đại học liên bang”, trong khi những người bảo thủ muốn tất cả các trường đại học phải chịu sự quản lý của từng bang, để những người theo chủ nghĩa tự do không có chỗ đứng. Ban đầu, cả hai trường đại học này cùng nằm trong cùng các tòa nhà của Đại học Zurich. Vào năm 1909, chương trình của ETH được tổ chức lại thành một đại học thật sự và ETH được quyền đào tạo học vị tiến sĩ. Vào năm 1911, nó được đặt tên theo như hiện nay, Eidgenössische Technische Hochschule. Vào năm 1924, một đợt tổ chức lại đã phân trường thành 12 khoa khác nhau.

Địa chỉ: Rämistrasse 101, 8092 Zürich, Thụy Sĩ.

Từ góc nhìn Viện Công nghệ Liên bang Zurich
Từ góc nhìn Viện Công nghệ Liên bang Zurich
Viện Công nghệ liên bang Zurich
Viện Công nghệ liên bang Zurich

Đại học Chicago (University of Chicago)

Viện Đại học Chicago còn gọi là Đại học Chicago, là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở Chicago, Illinois, Hoa Kỳ. Viện đại học này được Hội Giáo dục Baptist Hoa Kỳ thành lập vào năm 1890 với khoản tiền hiến tặng từ tỉ phú dầu lửa John D. Rockefeller. William Rainey Harper trở thành viện trưởng đầu tiên của viện đại học vào năm 1891, những lớp học đầu tiên khai giảng vào năm 1892. Viện Đại học Chicago bao gồm Trường Đại học (the College), nhiều chương trình sau đại học và ủy ban liên ngành khác nhau được tổ chức thành bốn phân khoa, sáu trường chuyên nghiệp và một trường giáo dục thường xuyên. Viện đại học có tổng cộng khoảng 15.000 sinh viên, trong đó chừng 5.000 sinh viên theo học ở Trường Đại học. Viện Đại học Chicago nhiều năm liền được xếp vào một trong 10 viện đại học hàng đầu thế giới và được xếp thứ năm cùng với Viện Đại học Stanford trong “Bảng xếp hạng những viện đại học tốt nhất nước” năm 2014 của U.S. News & World Report.

Các học giả của Viện Đại học Chicago đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển những lĩnh vực học thuật khác nhau, trong đó có trường phái kinh tế học Chicago, trường phái xã hội học Chicago, phong trào luật và kinh tế học trong phân tích pháp lý, trường phái phê bình văn học Chicago, trường phái nghiên cứu tôn giáo Chicago, trường phái khoa học chính trị được biết đến với tên “thuyết hành vi” (behavioralism) và trong lĩnh vực vật lý nơi các nhà khoa học của viện đại học đã tạo ra phản ứng hạt nhân nhân tạo và tự duy trì đầu tiên của thế giới. Viện Đại học Chicago cũng là cơ sở giáo dục đại học có nhà xuất bản lớn nhất Hoa Kỳ, Nhà xuất bản Viện Đại học Chicago. Viện Đại học Chicago có 98 người được trao Giải Nobel, 49 Học giả Rhodes và 9 người được Huy chương Fields. Từ năm 2009, một chiến dịch gây quỹ ở mức thu 2 tỷ đô-la đã giúp mở rộng đáng kể khuôn viên, với việc khánh thành Khu chung cư Max Palevsky, Cư xá phía nam khuôn viên, Trung tâm Thể thao Gerald Ratner, một bệnh viện mới, và một tòa nhà mới dành cho khoa học. Từ năm 2011, những công trình xây dựng lớn bao gồm Trung tâm Phát kiến Y sinh Jules & Gwen Knapp, một trung tâm nghiên cứu y khoa 10 tầng, và những tòa nhà xây thêm vào khu y khoa của Trung tâm Y khoa Viện Đại học Chicago.

Địa chỉ: 5801 S Ellis Ave, Chicago, IL 60637, Hoa Kỳ.

Chiều tối tại Đại học Chicago
Chiều tối tại Đại học Chicago
Đại học Chicago
Đại học Chicago

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
You cannot copy content of this page