Wiki

Phi tần của Đường Thái Tông

Tranh vẽ của hậu thế về Đường Thái Tông Lý Thế Dân.

Đường Thái Tông phi tần (chữ Hán: 唐太宗妃嬪) là tập hợp ghi chép về các phi tần của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, vị Hoàng đế thứ hai của nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Tổng quan


Hậu cung thời Đường, theo Cựu Đường thư cùng Tân Đường thư, từ năm Vũ Đức triều Đường Cao Tổ Lý Uyên đã thiết đặt thứ bậc hậu cung dựa theo nhà Tùy, chia hai dạng thức rõ rệt là “Hạng có phẩm trật”“Hạng không phẩm trật”, trong đó Tứ phi (四妃) đứng đầu hàng ngũ có phẩm trật, dưới vị trí Hoàng hậu. Theo hệ thống triều Đường thì hàng “Tứ phi” bao gồm 4 danh hiệu: Quý phi (貴妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃) và Hiền phi (賢妃). Dưới có Chiêu nghi đứng đầu nhóm Cửu tần (九嬪), rồi ba vị hạng Tiệp dư, Mỹ nhân, Tài nhân gọi là nhóm Thế phụ (世婦), dưới nữa là nhóm Ngự thê (御妻).

Tuy rằng hậu cung nhà Đường định rõ nhiều cấp thứ bậc, nhưng trong lịch sử luôn có những người không rõ phong hiệu hay đãi ngộ được gọi chung là Thứ phi, hoặc dạng Tỳ thiếp Cung nhân, hay thậm chí chỉ là Nữ quan cũng được xem như vào hàng ngũ Hậu cung phi tần. Tình trạng này diễn ra mạnh đặc biệt là ở thời gian đầu triều Đường Cao Tổ và Đường Thái Tông.

Đường Thái Tông Lý Thế Dân khi còn sống có 1 chính thê là Văn Đức Thuận Thánh hoàng hậu Trưởng Tôn thị và khoảng 15 phi tần khác có, hoặc không có danh phận. Phần lớn các phi tần của Thái Tông đều có xuất thân đặc thù, không xuất thân từ hoàng tộc nhà Tùy thì cũng là Cung nhân, Nữ quan hoặc Tiểu thiếp của người khác. Trong đó, đặc biệt nhất là các tình nhân – tức là những người phụ nữ tuy có quan hệ tình dục với Thái Tông, thậm chí có thể đã được đãi ngộ “Có phẩm trật” dựa theo hàng Hậu cung phi tần và sinh ra Hoàng tử Công chúa, thế nhưng không bao giờ được xem là Hậu phi chính thức.

Các vị Phi


Danh sách những vị hậu cung được gọi là “Phi” dưới thời Đường Thái Tông.

  • Quý phi Vi thị (貴妃韋氏, 597 – 665), tên thật Vi Khuê (韋珪), biểu tự Trạch (泽), người huyện Đỗ Lăng đất Kinh Triệu, là cháu gái của Bắc Chu Thái phó Vi Hiếu Khoan, con gái của Vi Viên Thành (韦圆成) và chính thất Dương phu nhân.
Trong hai sách Đường thư đều không có truyện của bà, hành trạng của bà về sau chỉ được viết qua bia mộ của bà và trong mộ bia của A Sử Na Trung (阿史那忠). Theo đó, Vi thị trước từng hạ giá lấy Lý Hiếu Mân (李孝珉), con trai của Hộ bộ Thượng thư nhà Tùy là Lý Tử Hùng (李子雄), sinh một con gái. Sau khi cả nhà họ Lý bị diệt, Vi Khuê liền thành thiếp của Thái Tông. Năm Vũ Đức thứ 7 (624), Vi Khuê sinh ra con gái tên Lý Mạnh Khương. Năm thứ 9 (626), Thái Tông đăng cơ, sang năm sau, tức Trinh Quán nguyên niên (627), Thái Tông liền phong Vi Khuê làm Quý phi, Mạnh Khương được phong Lâm Xuyên công chúa, còn con gái riêng của Quý phi với Lý Hiếu Mân được phong làm Định Tương Huyện chúa, lấy thân phận Tông thất nữ hạ giá A Sử Na Trung. Năm thứ 2 (628), Vi Quý phi sinh hạ Kỷ vương Lý Thận. Khi Đường Cao Tông Lý Trị lên ngôi, Vi Quý phi do sinh hạ Kỷ vương nên được đổi gọi làm Kỷ Quốc Thái phi (紀國太妃).
Năm Lân Đức thứ 2 (665), khi tùy hầu Cao Tông và Võ Tắc Thiên lên Thái Sơn phong thiện, Vi Thái phi qua đời ở huyện Hà Nam, được bồi táng ở Chiêu lăng.
  • Quý phi Dương thị (貴妃杨氏), không rõ xuất thân. Có sách nói bà là con gái của Dương Huyền Tưởng (杨玄奖) – Trưởng tử của Dương Tố, nhưng không có khảo chứng.
Bà chỉ được biết đến vì sinh ra Triệu vương Lý Phúc (李福) – con trai thứ 13 của Đường Thái Tông, thời Cao Tông được phong làm Triệu Quốc Thái phi (趙國太妃), khi qua đời thì được bồi táng tại Chiêu lăng. Cả hai sách Đường thư đều gọi bà là “Dương phi”, không rõ phong hiệu khi còn sống, vì khi đó phong hiệu “Quý phi” là của Vi Khuê, không rõ phong hiệu “Quý phi” của Dương phi được xác nhận từ lúc nào, bia mộ của Triệu vương là tài liệu duy nhất đề cập danh xưng “Quý phi” của bà, có lẽ là một dạng phong tặng sau khi qua đời mà thôi.
  • Đức phi Yến thị (德妃燕氏, 609 – 671), xuất thân thế tộc họ Yến tại huyện Xương Bình, Trác quận. Cháu nội của U châu Tổng quản nhà Tùy là Yến Vinh (燕荣), con gái Yến Bảo Thọ (燕宝寿) và Dương phu nhân. Bà có người anh trai là Thứ sử của Ngạc Châu và Vận Châu, tước Xương Bình Quận công Yến Kính Tự (燕敬嗣). Dương phu nhân xuất thân Hoàng tộc nhà Tùy, là con gái thứ 3 của Dương Hùng (杨雄).
Khi Yến thị được khoảng 13 tuổi, nức tiếng hiền đức, nên khoảng năm Vũ Đức thứ 4 (621) được nạp cho Lý Thế Dân làm thiếp, khi đó ông còn là Tần vương. Năm Trinh Quán nguyên niên (627), Yến thị được phong “Hiền phi”, cùng năm sinh Hoàng bát tử Việt vương Lý Trinh. Không lâu sau, bà sinh ra Hoàng thập nhất tử Lý Hiêu (李囂) nhưng Hoàng tử chết non vào năm Trinh Quán thứ 6 (632), nên truy phong Giang Thương vương. Năm Trinh Quán thứ 18 (644), Yến thị lại được tấn phong “Đức phi”. Lúc ấy, Yến thị có quan hệ họ hàng với 3 phi tần khác của Đường Thái Tông là Sào Vương phi Dương thị, Dương Tiệp dư và Tài nhân Võ Mị. Ngoại tổ phụ Dương Đạt của Võ Mị là em trai của Quan vương. Thời Đường Cao Tông, Yến Đức phi được tôn làm Việt Quốc Thái phi (越國太妃), cùng con là Việt vương Trinh dời đến sống ở phong quốc.
Năm Càn Phong nguyên niên (666), Yến phi hầu Cao Tông và Võ hậu lên Thái Sơn, đảm nhận tế Chung hiến. Đến năm Hàm Hanh thứ 2 (671), Yến phi qua đời ở Trịnh Châu (nay thuộc khu vực Hà Nam, Trung Quốc), thọ 63 tuổi. Bà được phụ táng vào Chiêu lăng.
  • Hiền phi Từ thị (賢妃徐氏, 627 – 650), tên thật Từ Huệ (徐惠), người Hồ châu, xuất thân gia tộc có tiếng thi thư. Bà là con gái Từ Hiếu Đức (徐孝德), chị gái của Thứ sử Từ Tế Đam (徐齐聃), bà còn có và một em gái, về sau là Tiệp dư của Đường Cao Tông.
Trong lịch sử ghi lại, Từ thị là tài nữ nổi danh đương thời, trở thành một trong những Phi tần được sủng ái bậc nhất những năm cuối đời Thái Tông, nhập cung làm Tài nhân rồi dần phong đến bậc “Sung dung” (充容). Mất ít lâu sau khi Thái Tông băng hà, được truy tặng “Hiền phi” và an táng tại Chiêu lăng. Bà là phi tần duy nhất của Đường Thái Tông có truyện riêng trong phần “Hậu phi truyện” của hai sách Đường thư.
  • Phi Dương thị (妃杨氏), con gái của Tùy Dạng Đế Dương Quảng, sinh ra Ngô vương Lý Khác – con trai thứ 3 của Đường Thái Tông; và Thục Điệu vương Lý Âm (李愔) – con trai thứ 6 của Đường Thái Tông.
Đương thời, cả hai sách Đường thư đều không ghi rõ hành trạng của bà, sinh mẫu là ai. Năm Đại Nghiệp thứ 14 (618), Tùy Dạng Đế bị giết ở Giang Đô, và căn cứ theo năm sinh của Ngô vương Khác (năm 619, tức Vũ Đức năm thứ 2), Dương thị trở thành phi tần của Đường Thái Tông trong thời gian trước đó vài năm. Năm Vũ Đức thứ 9 (626), Đường Thái Tông đăng cơ. Căn cứ vào việc Dương thị về sau được gọi là “Phi”, thì hẳn bà đã đạt được vị trí trong Tứ phi, nhưng cả hai sách Đường thư này lại không rõ danh hiệu. Khi đó “Quý phi” là Vi Khuê và “Hiền phi” là Yến thị còn đang tại vị, nên danh hiệu của bà nhiều khả năng là “Thục phi” hoặc “Đức phi”, tuy nhiên điều này không có xác minh, có khả năng bà chỉ nhận đãi ngộ là hàng Phi mà không có danh xưng chính thức. Không rõ hành trạng của Dương phi sau đó thế nào. Chỉ biết về sau, bà cũng được chôn phụ vào Chiêu lăng.
  • Phi Âm thị (妃陰氏), người Vũ Uy thuộc Lương Châu, sinh ra Tề vương Lý Hựu (李祐) – con trai thứ 5 của Đường Thái Tông. Bà là cháu nội của khai quốc công thần nhà Tùy là Âm Thọ (陰壽), con gái Âm Thế Sư (陰世師). Năm Đại Nghiệp thứ 13 (617), Đường Cao Tổ Lý Uyên khởi nghĩa chống nhà Tùy tại Thái Nguyên, Âm Thế Sư trung thành với nhà Tùy, để đáp trả đã sát hại Lý Trí Vân (李智云) – con trai thứ 5 của Đường Cao Tổ, phá hủy nhiều mộ phần của họ Lý. Sau này nhà họ Âm bị tru sát, chỉ còn lại Âm thị và anh trai là Âm Hoằng Trí (阴弘智). Theo như biểu hiện, Âm thị được Thái Tông nạp làm thiếp từ trước khi ông lên ngôi.
Khoảng đầu năm Vũ Đức (618 hoặc 619), Âm thị đã sinh ra Lý Hựu. Sau khi Lý Thế Dân đăng cơ, bà được phong “Phi”, không rõ danh hiệu, nhưng do khi đó “Quý phi” là Vi Khuê và “Hiền phi” là Yến thị còn đang tại vị, nên danh hiệu của bà nhiều khả năng là “Thục phi” hay “Đức phi”, nhưng cũng không loại trừ khả năng bà cũng giống như Dương phi: chỉ có đãi ngộ hàng Phi mà không có danh xưng. Năm Trinh Quán thứ 17 (643), con trai là Tề vương Hựu mắc tội mưu phản, hùa theo cậu là Hoằng Trí gây loạn. Không lâu sau, Lý Hựu bị giải về Trường An, ban chết. Sách sử không ghi thêm hành trạng và số phận về sau của bà. Bà được táng tại Chiêu lăng, nhưng mộ được ghi Âm tần mộ (陰嬪墓), có lẽ là vì bị con trai liên lụy mà bị giáng tước.

Các phi tần khác


Tần và Ngự thê
  1. Hiền phi Trịnh thị (賢妃鄭氏), chỉ được đề cập trong Đường hội yếu (唐会要) khi nói về các phụ nữ được táng tại Chiêu lăng. Có ý kiến rằng “Đường hội yếu” ghi nhầm, nên là 「“Hiền phi Từ thị, Tài nhân Trịnh thị”」, bởi vì ngay sau Trịnh thị là Từ Huệ nhưng lại chỉ là “Tài nhân”, hoàn toàn không khớp với lịch sử.
  2. Chiêu dung Vi thị (昭容韋氏, 607 – 656), tên thật là Ni Tử (尼子), con gái Vi Khuông Bá (韦匡伯), em họ của Quý phi Vi Khuê, Vi thị được Thái Tông nạp làm thiếp từ trước khi ông lên ngôi, sau đó nâng làm Chiêu dung.
  3. Chiêu nghi Mỗ thị (昭儀某氏, 601 – 682), không rõ danh tính, an táng tại Chiêu lăng. Hiện tại chỉ còn một bài bia mộ, chữ “Mỗ” trong Hán ngữ có nghĩa là “không rõ ràng”, ý nói vị Chiêu nghi này không rõ họ gì, từ đây trở xuống khi ghi “Mỗ” thì đều cùng ý nghĩa này.
  4. Hạ tần Mỗ thị (下嫔某氏), sinh ra Dự Chương công chúa.
  5. Tiệp dư Mỗ thị (婕妤某氏), không rõ danh tính, an táng tại Chiêu lăng. Hiện tại chỉ còn một bài bia mộ.
  6. Tiệp dư Dương thị (婕妤楊氏), con gái thứ ba của Dương Cung Đạo (楊恭道), không rõ nơi táng.
  7. Mỹ nhân Tiêu thị (美人蕭氏), con gái Tiêu Thước (蕭鑠), không rõ nơi táng.
  8. Tài nhân Thôi thị (才人崔氏), con gái của Thôi Hoành Đạo (崔宏道), không rõ nơi táng.
  9. Tài nhân Tiêu thị (才人 蕭氏), con gái Tiêu Khanh (蕭鏗), không rõ nơi táng.
  10. Tài nhân Võ Mị, con gái Võ Sĩ Hoạch. Vào cung làm Tài nhân, sau khi Thái Tông qua đời thì ra Cảm Nghiệp tự, rồi lại quay về làm Chiêu nghi của Đường Cao Tông Lý Trị.
Nữ quan và Cung nhân
  1. Tam phẩm Cung nhân Chu thị (三品宮人周氏), bồi táng Chiêu lăng.
  2. Tam phẩm Vong cung Kim thị (三品亡宮金氏; 625 – 688), bồi táng Chiêu lăng.
  3. Vong cung Ngũ phẩm Mỗ thị (亡宮五品某氏; ? – 657), bồi táng Chiêu lăng.
  4. Tam phẩm Vong ni Mỗ thị (三品亡尼某氏), xuất gia làm ni sư, bồi táng Chiêu lăng.
  5. Thất phẩm Điển đăng (七品典燈), bồi táng Chiêu lăng.
Tình phụ không được công nhận
  1. Sào Lạt vương phi Dương thị (巢剌王妃楊氏), vợ của Sào Lạt vương (nguyên là Tề vương) Lý Nguyên Cát. Sinh ra Tào Cung vương Lý Minh.
  2. Đao nhân Cao Huệ Thông (高惠通; 597 – 626), người Bột Hải, cháu gái của Cao Thành Tịnh (高成并), con gái của Cao Thế Đạt (高世达) thời nhà Tùy.
  3. Vương thị (王氏), sinh Tương vương Lý Uẩn, không rõ truyện, chỉ biết sinh ra Lý Uẩn.
  4. Cung nhân không rõ họ, vốn là thiếp của Lư Giang vương Lý Viện.

Xem thêm


  • Hoàng hậu
  • Phi tần
  • Nữ quan
  • Đường Cao Tông

Chú thích


Tham khảo


  • Cựu Đường thư
  • Tân Đường thư
  • Tư trị thông giám
  • Toàn Đường văn

—HDAD–

Honda Anh Dũng

Honda Anh Dũng chuyên sửa xe máy, độ xe máy các loại và cung cấp các loại phụ tùng, phụ kiện, đồ chơi xe máy - An Phú, Thị xã Thuận An, Bình Dương.
Back to top button