Wiki

Giang Tô

Giang Tô
江苏省
tỉnh Giang Tô
—  Tỉnh  —
Chuyển tự tên
Giang Tô - Honda Anh Dũng
Giang Tô - Honda Anh Dũng
Giang Tô - Honda Anh DũngGiang Tô - Honda Anh DũngGiang Tô
Quốc gia Giang Tô - Honda Anh Dũng Trung Quốc
Thủ phủ Nam Kinh Giang Tô - Honda Anh Dũng
Chính quyền
 • Bí thư Tỉnh ủy Lâu Cần Kiệm 娄勤俭
 • Tỉnh trưởng Ngô Chính Long 吴政隆
Diện tích
 • Tổng cộng 102,600 km2 (39,600 mi2)
Thứ hạng diện tích thứ 24
Dân số (2018)
 • Tổng cộng 80,400,000
 • Mật độ 780/km2 (2,000/mi2)
Múi giờ UTC+8 Giang Tô - Honda Anh Dũng
Mã ISO 3166 CN-JS Giang Tô - Honda Anh Dũng
Thành phố kết nghĩa Fukuoka, Aichi, Ontario Giang Tô - Honda Anh Dũng
GDP (2018)
 – trên đầu người
9,29 nghìn tỉ NDT (1,40 nghìn tỉ USD) NDT (thứ 2)
115.768 NDT (17.438 USD) NDT (thứ 4)
HDI (2016) 0,798 (thứ 4) — cao
Các dân tộc chính Hán – 99,6%
Hồi – 0,2%
Ngôn ngữ và phương ngôn Quan thoại Giang Hoài, tiếng Ngô, Quan thoại Trung Nguyên
Trang web http://www.jiangsu.gov.cn/
(chữ Hán giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382

Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255
Jiangsu
Phồn thể 江蘇
Giản thể 江苏
Phiên âm
Tiếng Hán tiêu chuẩn
Bính âm Hán ngữ Jiāngsū, Giang Tô - Honda Anh Dũngnghe (trợ giúp·thông tin)
Wade–Giles Chiang-su
Tiếng Ngô
La tinh hóa kaon su
Tiếng Khách Gia
La tinh hóa Kông-sû
Tiếng Quảng Châu
Việt bính gong1sou1
Tiếng Mân Nam
Tiếng Mân Tuyền Chương POJ Kang-so

Giang Tô (江苏) là một tỉnh ven biển ở phía đông Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Giản xưng của Giang Tô là “Tô” (苏, sū), tức chữ thứ hai trong tên tỉnh. Năm 2018, Giang Tô là tỉnh đông thứ năm về số dân, đứng thứ hai về kinh tế Trung Quốc với 80,4 triệu dân, tương đương với Thổ Nhĩ Kỳ và GDP đạt 9,29 nghìn tỉ NDT (1,40 nghìn tỉ USD) tương đương với Úc.

Giang Tô có mật độ dân số cao nhất trong số các tỉnh của Trung Quốc, và xếp thứ 4 trong số các đơn vị cấp tỉnh, chỉ sau Thượng Hải, Bắc Kinh và Thiên Tân. Vào đầu thời Nhà Thanh, Giang Tô thuộc tỉnh Giang Nam, đến năm Khang Hi thứ 6 (1667), triều đình đã tách tỉnh Giang Nam thành Giang Tô và An Huy.

Giang Tô giáp với Sơn Đông ở phía bắc, giáp với An Huy ở phía tây, giáp với Chiết Giang và Thượng Hải ở phía nam. Giang Tô có đường bờ biển dài 1.000 kilômét (620 dặm) dọc theo Hoàng Hải và một phần biển Hoa Đông, Trường Giang chảy qua và đổ ra biển ở nam bộ Giang Tô. Từ sau khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, Giang Tô là một điểm nóng về phát triển kinh tế và hiện có GDP bình quân đầu người cao nhất trong số các tỉnh tại Trung Quốc. Tuy nhiên, có sự chênh lệch phát triển giữa vùng phía nam giàu có và vùng phía bắc còn mang tính nông thôn cao.

Lịch sử


Cổ đại

Thời thượng cổ, nam bộ Giang Tô nằm cách xa trung tâm của nền văn minh Hoa Hạ cổ (Thiểm Tây, Hà Nam và Sơn Tây). Khu vực Hoàng Hoài và Giang Hoài thời cổ là quê hương của người Hoài Di. Tại khu vực Tô Châu-Vô Tích-Thường Châu đã xuất hiện các nền văn hóa: Khóa Hồ Kiều (跨湖桥), Mã Gia Banh (马家浜), Tùng Trạch (松泽), Lương Chử (良渚), Mã Kiều (马桥); tại khu vực Ninh Trấn tồn tại văn hóa Hồ Thục (湖熟). Trong truyền thuyết lịch sử Trung Quốc về thủy tổ của tộc Hoa Hạ, Nghiêu là một trong Ngũ Đế, theo truyền thuyết thì Nghiêu sinh ra ở phía nam của Tam A (có quan điểm cho rằng nay là tây bắc Cao Bưu hoặc phụ cận hồ Cao Bưu ở Thiên Trường).

Thời Chu

Thời Tây Chu, tiếp xúc giữa Giang Tô và Trung Nguyên đã gia tăng, trên địa bàn Giang Tô khi đó đã có một vài nước chư hầu như Vu (邘), Chung Ngô (钟吾), Bành (彭). Đặc biệt là tại nam bộ Giang Tô đã nổi lên một nước chư hầu cường thịnh là Ngô với đô thành đặt tại Cô Tô (姑苏, nay là Tô Châu). Nước Ngô từng được nước Tấn giúp đỡ để làm một đồng minh chống lại nước Sở, về sau Ngô vương Hạp Lư của nước Ngô đã trở thành một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu. Dưới thời Hạp Lư, giữa Ngô và Sở đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh, Sở Chiêu vương bị nước Ngô liên tục uy hiếp nên đã phải dời bỏ Sính đô đi đóng đô ở đất Nhược. Nước Ngô tuy không chiếm được nước Sở nhưng đã trở nên lớn mạnh, nước Sở suy yếu, bị mất vị thế trong khu vực.

Giang Tô - Honda Anh Dũng Thạch khắc tại mộ của An Khanh Thành vương Tiêu Tú (萧秀) của Nam triều Lương

Bắt đầu từ năm 304, Tây Tấn diệt vong do loạn Vĩnh Gia khi các ngoại tộc tại Trung Nguyên nổi loạn, do chiến loạn, đã có một lượng lớn nhân khẩu, bao gồm cả các sĩ tộc đã di cư từ Trung Nguyên đến đồng bằng trung hạ du Trường Giang, sử gọi là “y quan nam độ” (衣冠南渡), việc này đã có tác động sâu sắc đến diện mạo chính trị thời Đông Tấn, đồng thời cũng giúp phát triển kinh tế trung hạ du Trường Giang, khiến trung tâm kinh tế của Trung Hoa chuyển xuống phương nam. Năm 317, Vương Đạo (王導) đã phụ tá Tư Mã Duệ kiến lập triều Đông Tấn tại Kiến Khang (do nhà Tấn kiêng húy Tấn Hoài Đế Tư Mã Nghiệp nên đổi thành Kiến Khang). Từ năm 420 trở đi, bốn triều đại kế tục nhau tại phương Nam Trung Quốc là Lưu Tống, Nam Tề, Lương và Trần cũng định đô ở Kiến Khang, chấm dứt khi nhà Tùy thống nhất Trung Quốc vào năm 589. Trong thời gian này, Hoài Hà ở bắc bộ Giang Tô lại một lần nữa trở thành giới tuyến phân chia giữa Bắc và Nam, là tiền tuyến trong các cuộc chiến tranh giữa hai bên.

Thời Tùy

Năm 589, Tùy diệt Trần, một lần nữa thống nhất Nam-Bắc. Năm 605, Tùy Dạng Đế đã giao công việc mở rộng, kéo dài Đại Vận Hà cho Vũ Văn Khải, để có thể nối liền Trác Quận (nay là Bắc Kinh) với Hàng Châu. Công việc này kéo dài trong 6 năm và đoạn kênh nằm giữa Trường Giang và Hàng Châu được đặt tên là Giang Nam Vận Hà (江南运河). Thời nhà Tùy, triều đình đã có một chính sách cậy quyền đối với các di dân Nam triều, cảnh tượng tiêu điều bao trùm lên nhiều khu vực tại Tô Nam. Về sau, do sự đấu tranh của địa chủ phương Nam, triều đình nhà Tùy đã phải áp dụng một chính sách ôn hòa hơn đối với phương nam, khiến Tô Nam và các phần khác từng nằm dưới sự thống trị của Trần xuất hiện cảnh phục hồi. Thời đại loạn Tùy mạt, quân phiệt Thẩm Pháp Hưng (沈法兴) đầu tiên đã phá hủy Dương Châu thành, và sau đó công nhập Giang Nam, chiếm được khu vực nay là Chiết Giang và nam bộ Giang Tộ, tự xưng Lương vương. Sự việc này đã khiến cho kinh tế Giang Nam chịu thiệt hại không nhỏ.

Thời Đường

Giang Tô - Honda Anh Dũng Dương Châu, một thành thị thương mại nổi lên từ thời Nhà Đường

Cùng với thời kỳ Nhà Hán, thời kỳ Nhà Đường là thời kỳ hoàng kim của Trung Quốc. Việc cung cấp lương thực của hoàng thất thời Đường dựa vào Giang Nam, triều đình quy định vào tháng 2 mỗi năm, thuyền vận lương Giang Nam sẽ tập trung tại Dương Châu, từ đó Dương Châu trở thành thành thị thương nghiệp nổi tiếng nhất Trung Quốc. Thời Đường, bộ phận phía nam Trường Giang của Giang Tô thuộc Giang Nam Đông đạo, bộ phận ở phía bắc Trường Giang và phía nam Hoài Hà thuộc Hoài Nam đạo, bộ phận ở phía bắc Hoài Hà thuộc Hà Nam đạo.

Cuối thời Nhà Đường, Trung Quốc xuất hiện tình trạng phiên trấn cát cứ nghiêm trọng, tại Giang Tô đã xuất hiện tình trạng đối đầu và xung đột trong một thời gian dài giữa Hoài Nam tiết độ sứ (trú địa Dương Châu) và Chiết Tây quan sát sứ (trú địa Trấn Giang).

Là kinh đô của Lục triều, Kiến Khang thời Tùy đã ở trong tình trạng bị phá hoại nghiêm trọng, đến thời Nhà Đường cũng không có gì khởi sắc. Đến thời cuối Nhà Đường, Kiến Khang nằm ở nơi giao giới giữa ba phiên trấn lớn là Hoài Nam, Chiết Tây và Tuyên Hấp, lại càng dễ bị phá hủy trong chiến tranh, đến tận khi Nam Đường lập quốc thì thành mới bắt đầu được khôi phục.

Thời Ngũ Đại Thập Quốc

Vào cuối thời Nhà Đường, tướng Dương Hành Mật đã cát cứ vùng Hoài Nam, sau đó ông được phong làm Hoài Nam tiết độ sứ năm 892. Năm 902, Dương Hành Mật được Đường Chiêu Tông phong làm Ngô vương. Sau khi nhà Hậu Lương thay thế Nhà Đường, trưởng nam của Dương Hành Mật là Dương Ác đã từ chối công nhận điều này và vẫn sử dụng niên hiệu của Nhà Đường. Từ thời điểm này, nước Ngô trở thành một chính thể độc lập và tự chủ. Ban đầu, Kinh đô nước Ngô đặt tại Quảng Lăng (nay là Dương Châu) và lãnh thổ bao gồm nam bộ An Huy, nam bộ Giang Tô, đại bộ phận Giang Tây, Hồ Nam cùng đông bộ Hồ Bắc. Kinh đô sau này được chuyển tới Kim Lăng (nay là Nam Kinh).

Trong lúc đó, cực nam của Giang Tô (khu vực Tô Châu ngày nay) thuộc quyền cai quản của Tiền Lưu. Sau khi Nhà Đường diệt vong, Tiền Lưu cũng tự xưng Ngô Việt vương, lập ra nước Ngô Việt, kinh đô nước này đặt tại tại Tây Phủ (nay là Hàng Châu). Lãnh thổ Ngô Việt gần như bao gồm toàn bộ lãnh thổ nước Việt thời Xuân Thu, chứ không bao gồm đất của nước Ngô thời đó – điều này dẫn tới những lời cáo buộc của Dương Ngô rằng Ngô Việt có mưu đồ đối với lãnh thổ của họ, và tên gọi này là nguồn gốc của các căng thẳng trong nhiều năm giữa hai quốc gia. Ngô Việt cuối cùng đã sáp nhập vào Tống một cách tương đối hòa bình.

Từ Tri Cáo, tên thật Lý Biện, ban đầu là con nuôi Dương Hành Mật. Tuy nhiên đến năm 937, ông đã chính thức chiếm đoạt quyền hành của nước Ngô, cho rằng mình thuộc dòng dõi hoàng tộc Nhà Đường nên đã cải lại sang họ Lý, tự xưng Hoàng đế, lập nên nước Nam Đường. Kinh đô Nam Đường được đặt ở Kim Lăng (cũng gọi là Tây Đô), ngày nay là Nam Kinh. Nước Nam Đường nắm bắt thời cơ, diệt Ân (một chính quyền ly khai khỏi Mân) và cả Mân vào năm 945, thôn tính nước Sở năm 951. Sau khi nhà Hậu Chu thay nhà Hậu Hán, Hậu Chu Thế Tông (Sài Vinh) mang quân nam tiến, đánh cho Nam Đường đại bại. Sau hai cuộc chiến năm 956 và 958, Nam Đường bị mất phần đất Giang Bắc, chỉ co cụm về Giang Nam. Lý Cảnh phải xưng thần, làm chư hầu với Hậu Chu và từ bỏ niên hiệu riêng, dùng niên hiệu của Hậu Chu. Năm 976, Tống Thái Tổ cất quân đánh Nam Đường, bắt vua Nam Đường là Lý Dục về Biện Kinh. Nước Nam Đường diệt vong.

Trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, đại bộ phận vùng Hoài Bắc của Giang Tô thuộc quyền cai quản của Ngũ Đại.

Giang Tô - Honda Anh Dũng Phiên bản thế kỷ XII của Hàn Hi Tái dạ yến đồ, Bảo tàng Cố Cung Bắc Kinh. Bức tranh gốc do Cố Hoành Trung vẽ để mô tả các bữa tiệc phóng túng trái với Nho giáo của Hàn Hi Tái (một viên quan cấp cao trong triều đình Nam Đường dưới thời Lý Dực)

Thời Tống

Dưới sự cai trị của triều đình Nhà Tống, giai tầng thương nhân giàu có cũng như kinh tế công thương nghiệp của Giang Tô có sự phát triển nhanh chóng, các thành thị chủ yếu như Tô Châu và Dương Châu đã phát triển thành các trung tâm thương nghiệp nổi bật. Dưới thời Tống, địa bàn Giang Tô ngày nay phân thuộc bốn lộ, cụ thể như sau: Giang Ninh phủ (nay là Nam Kinh) thuộc Giang Nam Đông lộ; Tô Châu, Thường Châu, Nhuận Châu thuộc Lưỡng Chiết Tây lộ; Dương Châu, Hoài An, Thái Châu, Hải Châu, Tứ Châu, Thông Châu, Chân Châu thuộc về Hoài Nam Đông lộ; Từ Châu thuộc Kinh Đông Tây lộ.

Năm 1127, nhà Kim của người Nữ Chân sau khi chinh phục Hoa Bắc đã tiến đến vùng Hoài Hà ở bắc bộ Giang Tô, Hoài Hà sau đó trở thành biên giới giữa triều Kim ở phía bắc và triều Nam Tống ở phía nam. Thời Nam Tống, Kinh Đông Tây lộ bị bãi bỏ, còn Hoài Nam Đông lộ, Giang Nam Đông lộ, Lưỡng Chiết Tây lộ vẫn tồn tại song ranh giới có sự điều chỉnh.

Thời Nguyên

Năm 1279, người Mông Cổ chiếm lĩnh Trung Quốc. Ban đầu, triều đình Nhà Nguyên sáp nhập Lưỡng Chiết lộ và Lưỡng Hoài lộ, thiết lập Giang Hoài đẳng lộ hành trung thư tỉnh, cai quản Lưỡng Hoài (Hoài Nam Đông lộ và Hoài Nam Tây lộ), Lưỡng Chiết (Lưỡng Chiết Tây lộ và Lưỡng Chiết Đông lộ), tỉnh hội đặt tại thủ phủ của Hoài Nam Đông lộ trước đây là Dương Châu. Đến năm Chí Nguyên thứ 21 (1284) thời Nguyên Thế Tổ, do không thuận lợi về mặt địa lý và dân sự, triều đình Nhà Nguyên đã chuyển tỉnh hội đến Hàng Châu. Đến năm Chí Nguyên thứ 22 (1285), triều Nguyên cắt Giang Bắc để nhập vào Hà Nam Giang Bắc đẳng xứ hành trung thư tỉnh, phần đất trước đây thuộc Lưỡng Chiết lộ thì thành lập Giang Chiết đẳng xứ hành trung thư tỉnh.

Thời Minh

Giang Tô - Honda Anh Dũng Minh Hiếu lăng, lăng tẩm của Chu Nguyên Chương, một trong những lăng vua thời cổ lớn nhất thế giới

Năm 1368, Chu Nguyên Chương đã lập nên Nhà Minh, ban đầu triều đình này định đô ở Nam Kinh. Triều đình Minh sau đó đã đưa các phủ và trực lệ châu tại khu vực thuộc hai tỉnh An Huy và Giang Tô ngày nay nằm dưới quyền cai trị trực tiếp của trung ương, gọi là “Trực Lệ”. Năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421), Minh Thái Tông Chu Lệ sau khi thiên đô đến Bắc Kinh đã cải “Trực Lệ” thành “Nam Trực Lệ”. Khi đó, khu vực thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay tồn tại 7 phủ, trong đó có 5 phủ ở Giang Nam là: Ứng Thiên phủ (Nam Kinh), Tô Châu phủ, Tùng Giang phủ, Thường Châu phủ và Trấn Giang phủ, ở Giang Bắc có 2 phủ là Dương Châu phủ và Hoài An phủ.

Thời Minh, kinh tế và văn hóa của Giang Tô phát triển ở thời đỉnh cao: Nam Kinh cũng có được vị thế “kinh thành” bên cạnh Bắc Kinh; Tô Châu và Tùng Giang dựa trên ngành dệt phát triển vẫn tiếp tục nắm giữ vị thế là trung tâm kinh tế của toàn Trung Quốc, trở thành khu vực có trình độ công nghiệp hóa và đô thị hóa cao nhất trong số các địa phương, các thành thị lớn nhỏ xuất hiện ở nhiều nơi, giá đất ở mức cao, tiền thuế nộp cho triều đình đứng hàng đầu cả nước.

Cũng vào thời Minh, trình độ phát triển văn hóa của Giang Tô cũng đứng hàng đầu tại Trung Quốc. Trong một thời gian dài, Giang Tô là nơi sản sinh một tỷ lệ lớn trạng nguyên trong các kỳ thi khoa cử. Đối với toàn Trung Quốc, các phong cách văn hóa và quan điểm thẩm mỹ tại Giang Tô có ảnh hưởng sâu rộng. Dương Châu và Hoài An nằm trên tuyến Đại Vân Hà nối kinh thành và Hàng Châu (tuyến vận chuyển lương thực từ phương Nam lên kinh thành) và là điểm khống chế mậu dịch muối ăn, nằm trong số các thành thị phồn hoa nhất ở phía bắc Trường Giang tại Trung Quốc khi đó.

Thời Thanh

Giang Tô - Honda Anh Dũng Đại môn của phủ Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc tại Nam Kinh

Giang Tô - Honda Anh Dũng Binh sĩ quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc trong chiến dịch Hoài Hải

Sau khi Trung Hoa Dân Quốc được thành lập, chính phủ Quốc dân sau đó đã phế bỏ chế độ phủ, châu, thính và phân toàn tỉnh Giang Tô thành 60 huyện. Năm 1916, sau khi Viên Thế Khải chết, toàn bộ Trung Quốc rơi vào cảnh quân phiệt cát cứ. Tỉnh Giang Tô từng thuộc quyền thống trị của Trực Lệ quân phiệt do Trương Tông Xương đứng đầu, cùng quản lý khu vực Thượng Hải với Hoàn hệ quân phiệt tại Chiết Giang song về sau giữa hai bên đã bùng phát chiến tranh Giang-Chiết. Sau nhiều tháng, chiến tranh kết thúc với thắng lợi thuộc về Trực hệ. Tuy nhiên, sau đó giữa Trương Tông Xương và Tôn Truyền Phương quay sang đối mặt nhau, Tôn Truyền Phương đã mở rộng địa bàn sang tỉnh Giang Tô. Ông ta đặt tổng hành dinh tại Nam Kinh với tư cách Đốc quân Giang Tô ngày 25 tháng 11 năm 1925. Sau Bắc phạt, Giang Tô nằm dưới quyền kiểm soát của Chính phủ Quốc dân. Trong thời gian này, công thương nghiệp của Giang Tây phát triển nhanh chóng, ngành dệt tại Vô Tích, Nam Thông và Thường Châu đã phát triển lớn mạnh.

Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch đã thiết lập chính phủ trung ương tại Nam Kinh. Chính quyền Tưởng Giới Thạch quản lý một cách thống nhất hơn một nửa Trung Quốc, đồng thời đã tiến hành kiến thiết hiện đại hóa đất nước, bao gồm cả xây dựng mạng lưới công lộ. Năm 1928, sau khi chính phủ Quốc dân chính thức định đô tại Nam Kinh, đã tiến hành kiến thiết thủ đô với quy mô lớn, tỉnh lị của Giang Tô được chuyển đến Trấn Giang vào năm 1929.

Sau khi chiến tranh Trung-Nhật bùng phát toàn diện vào năm 1937, quân Nhật đã oanh tạc dữ dội những nơi nằm dọc theo tuyến đường sắt Hỗ-Ninh (Thượng Hải-Nam Kinh) như Trấn Giang, Vô Tích, Tô Châu và các thành phố khác. Ngàu 13 tháng 12, quân Nhật công hãm Nam Kinh, trong vòng ba tháng đã có hàng trăm nghìn thường dân và binh lính Trung Quốc đã giải giáp bị lính của Quân đội Đế quốc Nhật Bản sát hại.. Các hành động hãm hiếp và cướp bóc trên quy mô lớn cũng đã diễn ra tại Nam Kinh. Các sử gia và nhân chứng ước tính rằng đã có từ 250.000 đến 300.000 người bị giết trong cuộc thảm sát này.

Chính quyền tỉnh Giang Tô tạm thời đã di dời từ Trấn Giang đến Hoài An để tránh sự uy hiếp của quân Nhật, đến năm 1939, chính quyền tỉnh di dời đến Hưng Hóa. Nam Kinh cũng là thủ đô của chính quyền Uông Tinh Vệ cho đến khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945. Chính quyền Uông Tinh Vệ đã di dời chính quyền tỉnh Giang Tô do mình quản lý đến Tô Châu. Đến năm 1944, chính quyền Uông Tinh Vệ đã thành lập tỉnh Hoài Hải tại bắc bộ Giang Tô và An Huy, lấy Từ Châu làm trung tâm. Trong chiến tranh, Tân Tứ quân (do Cộng sản đảng điều hành) đã tiến vào Tô Bắc, khống chế một bộ phận khu vực nông thôn, trụ sở quân sự được thiết lập tại Diêm Thành.

Sau chiến tranh, chính phủ Quốc dân đã hoàn đô từ Trùng Khánh về Nam Kinh, song lúc này Cộng sản đảng đã kiểm soát được một bộ phận khu vực Tô Bắc và Tô Trung và họ đã thành lập chính phủ biên khu Tô Hoàn đặt tại Hoài An. Không lâu sau, nội chiến Quốc-Cộng bùng phát, Cộng sản đảng triệt thoái khỏi Giang Tô. Tuy nhiên, đến năm 1948, những người cộng sản đã giành chiến thắng trong chiến dịch Hoài Hải ở khu vực phụ cận Từ Châu. Tháng 4 năm 1949, quân Cộng sản đã dễ dàng vượt Trường Giang và chiếm Nam Kinh, chính phủ Quốc dân triệt thoái đến Đài Loan.

Thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Bắc Kinh trở thành thủ đô. Ban đầu, Giang Tô được phân thành hành thự Tô Bắc và hành thự Tô Nam, song đến năm 1953 thì lại hợp lại thành tỉnh Giang Tô, tỉnh lị đặt tại Nam Kinh. Ranh giới giữa Giang Tô và An Huy cũng có điều chỉnh nhỏ: hai huyện Hu Dị và Tứ Hồng được chuyển cho Giang Tô, ngược lại, hai huyện Tiêu và Nãng Sơn của Từ Châu thì được chuyển sang cho An Huy.

Đến đầu thập niên 1980, các xí nghiệp tại nam bộ Giang Tô khá phát triển, Tô Nam trở thành khu vực giàu có và phát triển nhất Trung Quốc lúc đó. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu cải cách mở cửa, tâm điểm kinh tế là vùng ven biển đông nam, nhất là tại tỉnh Quảng Đông, điều này đã khiến Giang Tô dần bị tụt lại phía sau. Kinh tế Giang Tô vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 rơi vào tình trạng đình trệ. Tuy nhiên, đến đầu thập niên 1990, trung tâm kinh tế của vùng đồng bằng châu thổ Trường Giang là Thượng Hải đã nhận được sự quan tâm to lớn, các thành thị ở nam bộ Giang Tô gần gũi với Thượng Hải như Tô Châu và Vô Tích cũng phát triển nhanh chóng. Trong cùng thời kỳ, xuất hiện dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Tô Nam với số lượng lớn, kinh tế Giang Tô từ đó xuất hiện chênh lệch phát triển giữa nam và bắc. Thực lực kinh tế tổng hợp của Nam Kinh cũng có sự đột phá, đứng hàng đầu tại Giang Tô. Khu công nghiệp Trung Quốc-Singapore tại Tô Châu là khu phát triển kinh tế-kỹ thuật cấp quốc gia.

Địa lý


Giang Tô nằm ở phía đông đại lục Trung Quốc, giới hạn từ 116°22′-121°55′ kinh Đông, 30°46′-35°07′ vĩ Bắc. Có Trường Giang và Hoài Hà chảy qua ở phía nam và bắc, đông giáp Hoàng Hải, đông nam giáp Thượng Hải, nam giáp Chiết Giang, tây giáp An Huy, bắc giáp Sơn Đông. Giang Tô nằm ở vùng chuyển giao giữa miền Bắc và miền Nam Trung Quốc, khí hậu và thảm thực vật mang cả đặc điểm của phương Bắc và phương Nam. Giang Tô có diện tích 102.600 km², là tỉnh có diện tích nhỏ thứ hai Trung Quốc, chỉ sau Hải Nam. Đường ranh giới trên đất liền của tỉnh Giang Tô dài 3.383 km, cùng với 954 km đường bờ biển.

Địa hình

Giang Tô - Honda Anh Dũng Thái Hồ

Giang Tô - Honda Anh Dũng Tuyết rơi tại Tứ Thủy đình ở huyện Bái, Từ Châu

Đại bộ phận Giang Tô là đồng bằng phù sa hạ du Trường Giang và Hoài Hà, địa thế toàn tỉnh nhìn chung là khá thấp và bằng phẳng, cũng là tỉnh thấp và bằng phẳng nhất tại Trung Quốc. Diện tích vùng đồng bằng tại Giang Tô là trên dưới 70.000 km², chiếm 69% diện tích toàn tỉnh; vùng mặt nước chiếm 17% diện tích của tỉnh, đồi núi thấp chiếm 14% diện tích của tỉnh và tập trung tại tây nam và bắc bộ. Đỉnh Ngọc Nữ (玉女峰) trên Hoa Quả Sơn thuộc Liên Vân Cảng là điểm cao nhất Giang Tô với cao độ 624,4 mét trên mực nước biển. Hoa Quả Sơn tại Giang Tô được công nhận tương đối rộng rãi là nguyên mẫu của Hoa Quả Sơn trong Tây du ký.

Sông hồ

Hầu hết các khu vực tại Giang Tô đều có hệ thống thủy khá phát triển, diện tích mặt nước của toàn tỉnh là 17.300 km², chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng diện tích và đứng đầu trong số các tỉnh tại Trung Quốc. Đặc biệt là ở khu vực đồng bằng Thái Hồ ở phía nam của Trường Giang và đồng bằng Lý Hạ Hà ở giữa Trường Giang và Hoài Hà, các sông và kênh rạch hình thành một mạng lưới vô cùng dày đặc.

Trường Giang là sông lớn nhất tại Giang Tô, chảy theo hướng đông-tây, đoạn chảy qua Giang Tô của Trường Giang dài 425 km. Trường Giang phân Giang Tô thành hai phần bắc và nam. Trên địa bàn Giang Tô, có sông Tần Hoài nhập vào Trường Giang tại Nam Kinh. Trong lịch sử, Hoài Hà từng chảy qua trung bắc bộ Giang Tô rồi đổ ra Hoàng Hải, tuy nhiên, kể từ năm 1194 thì Hoàng Hà đã đoạt mất đường thông ra biển của Hoài Hà. Đến năm 1885, khi Hoàng Hà lại chuyển dòng lên phía bắc để đổ ra Bột Hải, Hoài Hà không còn có thể thông ra biển qua đường cũ được nữa, mà phải theo hồ Hồng Trạch, hồ Cao Bưu cùng Đại Vận Hà để đổ nước vào Trường Giang. Các sông lớn khác tại Giang Tô là sông Nghi (沂河), sông Thuật (沭河) và sông Tứ (泗水).

Ngoài các dòng chảy tự nhiên, Giang Tô cũng có rất nhiều kênh. Trong đó Kinh-Hàng Đại Vận Hà trải dài 718 km từ nam đến bắc của tỉnh, có cả thảy 8 địa cấp thị tại Giang Tô nằm ven tuyến Kinh-Hàng Đại Vận Hà, trong đó có các danh thành trong lịch sử và văn hóa Trung Quốc như Tô Châu hay Dương Châu. Ngoài ra, Giang Tô còn có các kênh nổi danh khác như kênh thủy lợi Tô Bắc (苏北灌溉总渠, dẫn nước từ Hoài Hà ra biển theo dòng chảy cũ) và Thông Dương Vận Hà (通扬运河).

Giang Tô là tỉnh tập trung nhiều hồ nhất Trung Quốc, với trên 290 hồ lớn nhỏ, tổng diện tích mặt hồ của toàn tỉnh Giang Tô là 6.853 km², chiếm tỷ lệ 6% diện tích, đứng đầu cả nước. Trong đó các hồ có diện tích trên 1000 km² là Thái Hồ (2250 km²) và hồ Hồng Trạch (2069 km²), đứng vị trí thứ 3 và thứ 4 trong năm hồ nước ngọt lớn nhất Trung Quốc. Các hồ có diện tích từ 100–1000 km² có hồ Cao Bưu (高邮湖), hồ Lạc Mã (骆马湖), hồ Thạch Cữu (石臼湖), hồ Cách (滆湖), hồ Bạch Mã (白马湖) và hồ Dương Trừng (阳澄湖). Các hồ có diện tích từ 50–100 km² tại Giang Tô gồm hồ Trường Đãng (长荡湖), hồ Thiệu Bá (邵伯湖), hồ Điến Sơn (淀山湖), hồ Cố Thành (固城湖). Các hồ tại Giang Tô không chỉ là một nguồn nước quan trọng mà còn là những nơi có nguồn lợi thủy sản, có giá trị trong giao thông đường thủy. Với một tỉnh có địa thế thấp như Giang Tô, các hồ nước còn có tác dụng chứa nước trong các cơn lụt lớn.

Khí hậu

Hầu hết Giang Tô nằm trong đới khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Cfa hay Cwa trong phân loại khí hậu Köppen), và bắt đầu chuyển sang đới khí hậu lục địa ẩm (Köppen Dwa) ở xa về phía bắc. Giữa các mùa có sự phân biệt rõ ràng, với nhiệt độ trung bình từ −1 đến 4 °C (30 đến 39 °F) vào tháng 1 đến 26 đến 29 °C (79 đến 84 °F) vào tháng 7. Mưa rơi thường xuyên giữa mùa xuân và mùa hè (mai vũ), các cơn bão nhiệt đới cùng với mưa bão xuất hiện vào cuối mùa hè và đầu mùa thu. Lượng mưa bình quân hàng năm của Giang Tô là 800 đến 1.200 milimét (31 đến 47 in), tập trung chủ yếu vào mùa hè, khi có gió mùa đông nam.

Nhân khẩu


Giang Tô - Honda Anh Dũng tháp chùa Báo Ân (报恩寺塔) tại Tô Châu, được xây dựng trong khoảng 1131 đến 1162 dưới thời Nam Tống

Giang Tô - Honda Anh Dũng Đại Minh tự tại Dương Châu

Tính đến cuối năm 2011, tổng số nhân khẩu thường trú tại Giang Tô là 78,988 triệu người, tăng 295.000 người so với năm trước. Trong năm, tỷ xuất sinh của Giang Tô là 9,59‰ và tỷ suất tử vong là 6,98‰, đạt mức tăng trưởng tự nhiên là 2,61‰. Bên cạnh người Hán chiếm tuyệt đại đa số, tỉnh Giang Tô có sự hiện diện của toàn bộ 55 dân tộc thiểu số được công nhận tại Trung Quốc. Các dân tộc thiểu số đã sinh sống nhiều đời tại Giang Tô là người Hồi và người Mãn.

Kết quả theo tổng điều tra nhân khẩu lần thứ 6 tại tỉnh Giang Tô

Thành thị Tổng nhân khẩu Nhân khẩu đô thị Tỷ số giới tính
nam/nữ
Tỷ lệ nhân khẩu có
trình độ giáo dục
từ đại học trở lên
Tỷ lệ mù chữ Tăng trưởng
nhân khẩu
hàng năm
Nam Kinh 8.004.680 7.165.628 107,31 26,12 2,64 2,52
Vô Tích 6.372.624 3.542.319 107,79 12,88 1,98 2,09
Từ Châu 8.580.500 3.053.778 101,20 7,36 4,59 -0,56
Thường Châu 4.591.972 3.290.548 104,01 11,72 3,30 1,79
Tô Châu 10.465.994 5.349.090 104,10 13,97 2,38 4,23
Nam Thông 7.282.835 2.273.326 89,67 7,67 3,31 /
Liên Vân Cảng 4.393.914 1.049.751 102,67 7,19 4,58 -0,57
Hoài An 4.799.889 2.633.402 98,91 7,08 4,91 -0,66
Diêm Thành 7.260.240 1.615.717 101,12 6,29 4,99 -0,90
Dương Châu 4.459.760 2.399.079 97,05 9,54 4,09 -0,47
Trấn Giang 3.113.384 1.200.400 105,14 11,51 2.89 0.72
Thái Châu 4.618.558 / 99,97 7,01 5,52 /
Túc Thiên 4.715.553 1.437.686 101,80 3,94 6,01 -0,89

Tôn giáo tại Giang Tô

  Tín ngưỡng truyền thống Trung Hoa (16.67%)  Kitô giáo (2.64%)  Tôn giáo khác hoặc không tôn giáo (80.69%)

Ngôn ngữ

Quan thoại và tiếng Ngô là hai ngôn ngữ hay phương ngữ chính tại Giang Tô. Trong đó, tiếng Ngô phân bổ ở khu vực đông nam mà trung tâm là Tô Châu, Vô Tích và Thường Châu; Quan thoại Trung Nguyên phân bố ở phía tây bắc, bao trùm toàn bộ Từ Châu và vùng đô thị của Túc Thiên; Quan thoại Giao-Liêu chỉ được nói ở huyện Cống Du thuộc Liên Vân Cảng; các khu vực còn lại, bao gồm cả tỉnh lị Nam Kinh, chủ yếu nói Quan thoại Giang Hoài. Ngoài ra, ở vùng Tô Nam còn hình thành một số đảo phương ngữ bắt nguồn từ các di dân ngoại tỉnh, như của tiếng Mân Nam.

Các đơn vị hành chính


Bài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính Giang Tô

Giang Tô được chia làm 13 đơn vị hành chính, toàn bộ là thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị, 地级市):

Bản đồ # Tên Thủ phủ Chữ Hán
Bính âm
Dân số (2010) Diện tích
(km²)
Giang Tô - Honda Anh Dũng Quang cảnh Nam Kinh, có thể trông thấy Kê Minh tự (鸡鸣寺) và siêu cao ốc Tử Phong (紫峰大厦)

Giang Tô - Honda Anh Dũng Công trường xây dựng nhà máy điện hạt nhân Điền Loan (田湾核电站) tại Liên Vân Cảng

Theo tính toán sơ bộ, tổng GDP của Giang Tô trong năm 2011 là 4,86043 nghìn tỉ NDT, tăng trưởng 11% so với năm trước đó. Kết cấu các khu vực trong nền kinh tế của tỉnh cũng tiến triển theo hướng ưu hóa, năm 2011, khu vực một của nền kinh tế đạt giá trị 306,48 tỉ NDT, tăng trưởng 4%; khu vực hai của nền kinh tế đạt giá trị 2,50238 nghìn tỉ NDT, tăng trưởng 11,7%; khu vực ba của nền kinh tế đạt giá trị 2,05157 nghìn tỉ NDT, tăng trưởng 11,1%; tỷ lệ giữa ba khu vực theo thứ tự là 6,3:51,5:42,2. Cũng trong năm này, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Giang Tô là 539,76 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 312,6 tỉ USD.

Năm 2018, Giang Tô có 80,4 triệu dân, GDP đạt 9,29 nghìn tỉ nhân dân tệ (tương ứng với 1,4 nghìn tỉ USD), hạng nhì Trung Quốc đại lục (sau Bắc Kinh), hạng tư toàn quốc (sau Ma Cao và Hồng Kông), GDP bình quân đạt 115.768 nhân dân tệ (17.438 USD). Giang Tô có tới 80 triệu dân, lại đạt GDP bình quân đầu người cao gấp đôi trung bình chung thế giới, đứng ở vị trí rất nổi bất đối với vấn đề phát triển kinh tế. Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô là cơ quan tiến hành phát triển kinh tế tỉnh, và Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô là người trực tiếp chỉ đạo kinh tế. Tỉnh có một hệ thống tưới tiêu rộng lớn hỗ trợ nông nghiệp, chủ yếu là lúa gạo và lúa mì, ngô và lúa miến. Từ rất lâu, Giang Tô có hệ thống phát triển các loại cây trồng như bông, đậu nành, đậu phộng, hạt vừng, cây gai, trà, bạc hà, tre, dược liệu, táo, lê, đào, bạch quả và bao gồm Thái Hồ ở phía nam là cơ sở sản xuất tơ lụa chính ở Trung Quốc. Tuy nhiên, lĩnh vực này thuộc Khu vực một của nền kinh tế, chỉ chiếm 4% kinh tế Giang Tô, khi mà nền kinh tế chủ yếu nằm ở lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao. Kinh tế Giang Tô năm 2018 này vượt qua cả Mexico, Indonesia, lần lượt hạng 15, 16 kinh tế thế giới. Tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 8%. Nền kinh tế của Giang Tô là lớn thứ bảy trong số các đơn vị cấp tỉnh trên toàn cầu, sau California, Anh, Tokyo, Texas, New York và Quảng Đông.

Công nghiệp

Theo truyền thống, Giang Tô hướng theo phát triển các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may và công nghiệp thực phẩm. Từ năm 1949, Giang Tô cũng đã phát triển các ngành công nghiệp nặng như công nghiệp hóa chất và vật liệu xây dựng. Các lĩnh vực công nghiệp quan trọng tại Giang Tô bao gồm máy móc, điện tử, hóa chất và ô tô. Trong thời gian gần đây, chính quyền cũng khá tích cực để thức đẩy ngành công nghiệp năng lượng mặt trời và hy vọng vào năm 2012, ngành này sẽ đạt giá trị 100 tỉ NDT. Hiện nay, Giang Tô là vùng trọng yếu tại Trung Quốc trong các ngành điện tử, máy móc, dệt may, hóa dầu và vậy liệu xây dựng. Quy mô giá trị công nghiệp năm 2011 gia tăng 13,8% so với năm trước đó, trong đó các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng lần lượt có mức tăng trưởng 11,1% và 14,8%. Cũng trong năm 2011, khu vực công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước tăng trưởng 10,3%, khu vực công nghiệp tập thể tăng trưởng 5,3%, khu vực công nghiệp theo chế độ cổ phần tăng trưởng 13,9%, khu vực đầu tư nước ngoài (bao gồm cả vốn Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan) tăng trưởng 13,8%.

Nông nghiệp

Giang Tô có một lịch sử nông nghiệp lâu dài, từ 6.000 năm trước những người sống trên vùng đất mà nay là Giang Tô đã trồng lúa cạn và lúa nước. Giang Tô là khu vực sản xuất nông nghiệp trọng yếu tại Trung Quốc trong một thời gian dài, có được danh tiếng “ngư mễ chi hương” (vùng đất của cả và gạo, vùng đất giàu có). Giang Tô có một mạng lưới thủy lợi rộng khắp phục vụ cho nông nghiệp. Hiện nay, nền nông nghiệp của tỉnh phần lớn dựa trên việc trồng lúa gạo và lúa mì, sau đó đến ngô và lúa miến. Các loại cây trồng để thu hoa lợi khác bao gồm bông, đỗ tương, lạc, cải dầu, vừng, gai dầu, chè. Các cây trồng để phục vụ cho các mục đích khác bao gồm bạc hà, bạc hà lục, tre, thảo mộc. Các loại cây ăn quả được trồng tại Giang Tô là táo tây, lê, đào, nhót tây, bạch quả. Dâu tằm cũng là một cây trồng quan trọng trong nền nông nghiệp của Giang Tô, vùng Thái Hồ là một trung tâm sản xuất tơ lụa chính tại Trung Quốc. Năm 2011, tổng sản lượng lương thực của Giang Tô đạt 33,078 triệu tấn, tổng sản lượng thịt gia súc và gia cầm là 3,656 triệu tấn, tổng sản lượng trứng gia cầm là 1,949 triệu tấn, tổng sản lượng sữa là 3,337 triệu tấn, các sản phẩm thủy hải sản có sản lượng 1,422 triệu tấn.

Tài nguyên khoáng sản

Tính đến năm 2011, người ta đã phát hiện được 133 loại khoáng sản trên địa bàn Giang Tô, trong đó đã xác minh được trữ lượng của 67 loại. Giang Tô có tài nguyên than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên, song các loại khoáng sản quan trọng nhất của tỉnh là những loại phi kim như thạch diêm, lưu huỳnh, phốtpho và đá hoa. Các mỏ muối tại Hoài Âm có trữ lượng trên 0,4 nghìn tỉ tấn và là một trong những khu vực có trữ lượng lớn nhất Trung Quốc.

Du lịch


Giang Tô - Honda Anh Dũng Chuyết Chánh viên tại Tô Châu

Giang Tô là một trong các tỉnh trọng điểm về du lịch tại Trung Quốc, với các danh hồ, danh sơn, danh tuyền, danh viên, danh tự nổi tiếng khắp đất nước. Giang Tô có 28 “thành thị du lịch ưu tú Trung Quốc”, 9 khu thắng cảnh cấp 5A, 98 khu thắng cảnh loại 4A. Các danh hồ tại Giang Tô bao gồm: Thái Hồ, hồ Huyền Vũ 玄武湖 và hồ Mạc Sầu (莫愁湖) ở Nam Kinh, hồ Sấu Tây (瘦西湖) ở Dương Châu, hồ Dương Trừng ở Tô Châu, hồ Vân Long (云龙湖) ở Từ Châu, hồ Thiên Mục (天目湖) ở Lật Dương. Suối Trung Linh (中泠泉) ở Trấn Giang được gọi là “Thiên hạ đệ nhất tuyền”, suối Huệ Sơn (惠山泉) ở Vô Tích được gọi là “Thiên hạ đệ nhị tuyền”. Chung Sơn ở Nam Kinh, Tam Sơn (Bắc Cố Sơn, Kim Sơn, Tiêu Sơn) ở Trấn Giang với màu xanh tươi. Mao Sơn ở nơi giáp giới giữa Cú Dung và Kim Đàn là trung tâm Đạo giáo ở Đông Nam Trung Quốc, còn được gọi là “Đệ nhất phúc địa” và “Đệ bát động thiên” của Đạo giáo. Hoa Quả Sơn tại Liên Vân Cảng nhờ kết duyên với “Tây du ký” mà nổi danh khắp trong và ngoài nước. Minh Hiếu lăng (明孝陵) tại Nam Kinh là một phần của quần thể Lăng tẩm hoàng gia Minh-Thanh, một di sản thế giới của UNESCO. Các viên lâm cổ điển tại Giang Tô nổi tiếng trên toàn thế giới, trong đó Chuyết Chính viên (拙政园), Lưu Viên (留园) tại Tô Châu là một trong tứ đại danh viên của Trung Quốc, 9 viên lâm cổ điển tại Tô Châu hình thành một quần thể di sản thế giới của UNESCO. Tê Hà tự (栖霞寺) tại Nam Kinh, Kim Sơn tự (金山寺) tại Trấn Giang, Đại Danh tự (大名寺) tại Dương Châu, Hàn Sơn tự (寒山寺) tại Tô Châu, Long Xương tự (隆昌寺) tại Cú Dung là các đền chùa cổ trứ danh. Các thắng cảnh nổi tiếng khác tại Giang Tô còn có Linh Sơn Đại Phật (灵山大佛) ở Vô Tích, cầu Trường Giang Nam Kinh, một công trình được xem là biểu tượng cho tinh thần và khả năng của người Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông, lăng Tôn Trung Sơn.

Văn hóa


Giang Tô - Honda Anh Dũng súp mì và tôm Đông Qua, một món ăn của ẩm thực Kinh Tô

Giang Tô - Honda Anh Dũng bài phường với các họa tiết của vận cẩm, loại lụa đặc sản của Nam Kinh

Thế kỷ XVII, triều đình Nhà Thanh đã tách tỉnh Giang Nam thành Giang Tô và An Huy, tuy nhiên danh xưng Giang Nam vẫn thường được nhắc đến sau đó. Hai phần phía bắc và phía nam của Giang Tô xưa kia không có nhiều kết nối với nhau như trong các thế kỷ gần đây. Theo truyền thống, Tô Nam được dùng để chỉ ba thành phố thịnh vượng hơn là Tô Châu, Vô Tích và Thường Châu; văn hóa Tô Nam thuộc vòng văn hóa Ngô cùng với Thượng Hải và Chiết Giang. Tại khu vực Giang Hoài thì các thành phố Hoài An, Dương Châu và Trấn Giang thuộc vòng văn hóa Giang Hoài (Đông), hay còn gọi là văn hóa Hoài Dương; Nam Kinh thuộc khu vực văn hóa Hoài Tây, hay văn hóa Ninh Lư. Khu vực Thái Châu cùng đại bộ phận Diêm Thành và Nam Thông là nơi nhiều nét văn hóa cùng tồn tại. Nam bộ Túc Thiên, khu vực đô thị và nam bộ của Liên Vân Cảng thuộc vùng văn hóa Hải Tứ, khu vực này nằm ở phía bắc Hoài Hà, phong tục vùng này là sự quá độ từ văn hóa Trung Nguyên sang văn hóa Giang Hoài. Từ Châu, khu vực đô thị của Túc Thiên và 2 huyện bắc bộ của Liên Vân Cảng thuộc khu vực văn hóa Trung Nguyên. Ngoài ra, từ năm 1998, đã có một cách phân loại mới được sử dụng thường xuyên, đó là vùng phía nam Trường Giang thì được gọi là Tô Nam, các thành phố Dương Châu, Nam Thông và Thái Châu được gọi là Tô Trung và các nơi còn lại của Giang Tô thì được gọi là Tô Bắc.

Giâng Tô là tỉnh giàu truyền thống văn hóa: Côn khúc, bắt nguồn từ Côn Sơn, là một trong các loại hình hí khúc nổi tiếng và có thanh thế nhất. Bình đàn (评弹), một hình thức kể chuyện kèm theo âm nhạc, cũng khá phổ biến ở Giang Tô: có thể phân loại loại hình ca kịch này dựa theo nguồn gốc: Bình đàn Tô Châu, Bình đàn Dương Châu và Bình đàn Nam Kinh. Tích kịch (锡剧), một loại hình hí kịch truyền thống Trung Quốc, khá thông dụng tại Vô Tích, trong khi Hoài kịch (淮剧) phổ biến ở các khu vực phía bắc, xung quanh Diêm Thành.

Ẩm thực Giang Tô là một trong tám trường phái lớn của ẩm thực Trung Quốc. Ẩm thực Giang Tô lại được chia tiếp thành các phong cách ẩm thực nhỏ hơn: ẩm thực Kim Lăng (hay ẩm thực Kinh Tô), trung tâm là Nam Kinh với đặc điểm là tinh tế cùng khẩu vị “bình hòa”; ẩm thực Hoài Dương tập trung tại Hoài An, Dương Châu và Trấn Giang với đặc điểm là chú trọng đến việc lựa chọn nguyên liệu và dao, khẩu vị “thanh đạm”; ẩm thực Tô Tích tập trung tại Tô Châu, Vô Tích cùng Thường Châu với đặc điểm là thường dùng bã rượu để điều vị, có thế mạnh về các loại thủy sản, khẩu vị “thiên điềm”; ẩm thực Từ Hải, tập trung ở Từ Châu và Liên Vân Cảng, có thế mạnh về hải sản và rau xanh, khẩu vị “giác trọng”. Nhìn chung, các nguyên liệu điển hình trong món ăn Giang Tô là thủy sản tươi sống, trà, măng, nấm,..Ngoài ra, kỹ thuật gọt tỉa, trang trí thức ăn cũng đóng vai trò quan trọng. Ẩm thực Giang Tô nổi tiếng về các món hầm, ninh, tần.

Tô Châu nổi tiếng với tơ lụa, thêu nghệ thuật, trà hoa nhài, thạch kiều, đền miếu, và các viên lâm cổ. Nghi Hưng gần đó nổi tiếng với trà cụ (những đồ dùng trong việc thưởng trà), còn Dương Châu nổi tiếng với nghệ thuật sơn mài và đồ bằng ngọc. Vân cẩm (云锦) của Nam Kinh là một loại lụa dệt nổi tiếng.

Từ thời cổ, Tô Nam đã nổi tiếng với sự thịnh vượng và sang trọng, các địa danh ở Giang Nam như Tô Châu hay Dương Châu đã đi vào thi ca, kể cả trong tác phẩm của những thi nhân nổi tiếng, với vẻ thơ mộng. Sự nổi danh của Tô Châu cũng như Hàng Châu ở Chiết Giang đã khiến xuất hiện câu nói nổi tiếng “Thượng hữu thiên đường, hạ hữu Tô Hàng” (上有天堂, 下有蘇杭). Tương tự, sự thịnh vượng của Dương Châu đã khiến ra đời câu thơ: “Eo quấn mười vạn xâu (tiền), cưỡi hạc xuống Dương Châu” (腰纏十萬貫, 騎鶴下揚州, Yêu triền thập vạn quán, kị hạc hạ Dương Châu).

Giao thông


Đường thủy

Giang Tô - Honda Anh Dũng Đoạn Kinh Hàng Đại Vận Hà qua Dương Châu

Giang Tô giáp Hoàng Hải ở phía đông, Trường Giang và Kinh Hàng Đại Vận Hà tạo thành một hình chữ thập (十) trên địa bàn tỉnh, vùng đồng bằng Thái Hồ và đồng bằng Lý Hạ Hà có mạng lưới đường thủy dày đặc. vì thế, giao thông đường thủy đóng một vị thế quan trọng trong tổng thể giao thông của Giang Tô. Tuyệt đại bộ phận các thành thị của Giang Tô nhờ có ưu thế giao thông thủy mà đã phát triển phồn vinh. Trên địa bàn Giang Tô hiện nay có các cảng như cảng Thái Thương, cảng Thường Thục, cảng Trương Gia Cảng, cáng Liên Vân Cảng, cảng Nam Thông, cảng Nam Kinh, cảng Trấn Giang, cảng Giang Âm. Hệ thống cảng Tô Châu (bao gồm ba cảng Thái Thương, cảng Thường Thục và cảng Trương Gia Cảng) là cảng lớn nhất Giang Tô, cũng là cảng đường sông lớn nhất Trung Quốc.

Đường sắt

Giang Tô - Honda Anh Dũng Tàu CRH2-080C tại ga Tô Châu

Tính đến cuối năm 2011, tỉnh Giang Tô có 2348 km đường sắt đã thông tuyến. Đường sắt Kinh-Hỗ, đường sắt Lũng-Hải là các tuyến đường sắt trọng yếu đi qua tỉnh Giang Tô. Đường sắt Kinh-Hỗ chủ yếu là theo hướng đông-tây và xuyên qua Giang Tô ở phía nam, còn đường sắt Lũng-Hải đi theo chiều đông-tây ở cực bắc của Giang Tô, qua Từ Châu và Liên Vân Cảng. Đoạn Nam Kinh-Thượng Hải của đường sắt Kinh-Hỗ là đoạn đường sắt bận rộn nhất tại Trung Quốc, vào lúc cao điểm cứ mỗi 5 phút sẽ có một chuyến tàu. Mặc dù Giang Tô là một tỉnh phát triển về kinh tế tại Trung Quốc, song giao thông đường sắt của tỉnh lại tụt hậu, một khu vực rộng lớn của tỉnh, nhất là đại bộ phận Giang Bắc vẫn có rất ít các tuyến đường sắt, khiến sự phát triển kinh tế bị cản trở. Ngày 28 tháng 9 năm 2009, cầu đường sắt vượt Trường Giang thứ hai trên địa bàn Giang Tô đã hợp long thuận lợi.

Đường bộ

Tính đến cuối năm 2011, toàn tỉnh Giang Tô có 152.247 km công lộ, đạt mật độ 148 km/100 km², trong đó có 4122 km đường cao tốc, đứng thứ 5 cả nước; mật độ đường cao tốc là 4,02 km/100 km², đứng đầu trong số các tỉnh và khu tự trị tại Trung Quốc.

Trên địa phận Giang Tô, các tuyến đường cao tốc Liên-Hoắc (G30), đường cao tốc Hỗ-Thiểm (G40), đường cao tốc Hỗ-Dong (G42) chạy theo chiều đông-tây; các tuyến đường cao tốc Thẩm-Hải (G15), đường cao tốc Kinh-Hỗ (G2), đường cao tốc Trường-Thẩm (G25) chạy theo hướng nam-bắc; tuyến đường cao tốc Ninh-Lạc (G36) nối liền hai thành thị lớn là Nam Kinh và Lạc Dương; tuyến đường cao tốc Hỗ-Du (G50) từ Thượng Hải đi qua Tô Châu để tiến đến Chiết Giang; tuyến đường cao tốc Kinh-Đài từ Sơn Đông đi qua Từ Châu để tiến vào An Huy. Ngoài ra, Giang Tô còn có nhiều tuyến đường bộ cao tốc cấp tỉnh.

Đường không

Tính đến đầu năm 2012, Giang Tô có 185 tuyến bay quốc nội và 39 tuyến bay quốc tế. Giang Tô có 9 sân bay dân dụng là Sân bay quốc tế Lộc Khẩu Nam Kinh, Sân bay Thạc Phóng Vô Tích, Sân bay Bôn Ngưu Thường Châu, sân bay Liên Thủy Hoài An, sân bay Diêm Thành, Sân bay Quan Âm Từ Châu, Sân bay Bạch Tháp Phụ Liên Vân Cảng, Sân bay Hưng Thông Nam Thông, sân bay Thái Châu Dương Châu. Ngoài ra, tỉnh còn có ba sân bay kết hợp cả mục đích quân sự và dân dụng là sân bay Đại Hiệu Trường Nam Kinh, sân bay Quang Phúc Tô Châu, sân bay Như Cao.

Cầu

Giang Tô - Honda Anh Dũng Cầu Trường Giang Tô Thông

Giang Tô nằm ở hạ du Trường Giang, là nơi con sông lớn này đổ ra biển. Các cây cầu vượt Trường Giang tại Giang Tô đều phải là những cây cầu lớn (từ tây sang đông):

  • cầu Trường Giang Đại Thắng Quan Nam Kinh (南京大胜关长江大桥), là cầu đường sắt, thông xe năm 2011
  • Cầu Trường Giang 3 Nam Kinh (南京长江三桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2005
  • Cầu Trường Giang Nam Kinh, cầu kết hợp cả đường bộ lẫn đường sắt, thông xe năm 1958
  • Cầu Trường Giang 2 Nam Kinh (南京长江二桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2001
  • Trường Giang Nhuận Dương (润扬长江大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2005
  • Cầu Trường Giang Thái Châu (泰州长江大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2012
  • Cầu Trường Giang Giang Âm (江阴长江大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 1999
  • Cầu Trường Giang Tô Thông (苏通长江大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2008
  • Cầu Sùng Khải (崇启大桥), cầu đường bộ, thông xe năm 2012

Trường đại học


Giang Tô - Honda Anh Dũng Đại lễ đường của Đại học Đông Nam tại Nam Kinh

Giang Tô - Honda Anh Dũng Khu lâm viên từ thời Thanh của Đại học Tô Châu

  • Đại học Nam Kinh (南京大学)
  • Đại học Đông Nam (东南大学)
  • Đại học Hà Hải (河海大学)
  • Đại học Hàng không và Du hành vũ trụ Nam Kinh (南京航空航天大学)
  • Đại học Nông nghiệp Nam Kinh (南京农业大学)
  • Đại học Khoa học-Công nghệ Nam Kinh (南京理工大学)
  • Đại học Dược Trung Quốc (中国药科大学)
  • Đại học Sư phạm Nam Kinh (南京师范大学)
  • Đại học Lâm nghiệp Nam Kinh (南京林业大学)
  • Đại học Công nghiệp Nam Kinh (南京工业大学)
  • Đại học Tài chính-Kinh tế Nam Kinh (南京财经大学)
  • Đại học Công nghệ Thông tin Nam Kinh (南京信息工程大学)
  • Đại học Bưu điện Nam Kinh (南京邮电大学)
  • Đại học Y Nam Kinh (南京医科大学)
  • Đại học Trung Y-Dược Nam Kinh (南京中医药大学)
  • Học viện Giáo dục Giang Tô (江苏教育学院)
  • Học viện Thể dục Nam Kinh (南京体育学院)
  • Học viện Công nghệ Nam Kinh (南京工程学院)
  • Học viện Kiểm toán Nam Kinh (南京审计学院)
  • Học viện Nghệ thuật Nam Kinh (南京艺术学院)
  • Học viện Hiểu Trang Nam Kinh (南京晓庄学院)
  • Học viện Khoa học-Kĩ thuật Kim Lăng (金陵科技学院)
  • Học viện Cảnh sát Giang Tô (江苏警官学院)
  • Học viện Cánh sát Rừng Nam Kinh (南京森林警察学院)
  • Đại học Giang Nam (江南大学)
  • Đại học Khoáng nghiệp Trung Quốc (中国矿业大学)
  • Đại học Sư phạm Giang Tô (江苏师范大学)
  • Học viện Y Từ Châu (徐州医学院)
  • Học viện Công nghệ Từ Châu (徐州工程学院)
  • Đại học Giang Tô (江苏大学)
  • Đại học Khoa học-Kỹ thuật Giang Tô (江苏科技大学)
  • Đại học Dương Châu (扬州大学)
  • Đại học Nam Thông (南通大学)
  • Đại học Tô Châu (苏州大学)
  • Học viện Khoa học-Kỹ thuật Tô Châu (苏州科技学院)
  • Học viện Khoa học-Công nghệ Thường Thục (常熟理工学院)
  • Học viện Sư phạm Diêm Thành (盐城师范学院)
  • Học viện Công nghệ Diêm Thành (盐城工学院)
  • Học viện Sư phạm Hoài Âm (淮阴师范学院)
  • Học viện Công nghệ Hoài Âm (淮阴工学院)
  • Học viện Công nghệ Hoài Hải (淮海工学院)
  • Đại học Thường Châu (常州大学)
  • Học viện Công nghệ Thường Châu (常州工学院)
  • Học viện Khoa học-Công nghệ Giang Tô (江苏理工学院)
  • Học viện Túc Thiên (宿迁学院)

Địa phương kết nghĩa


  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Úc, Victoria 18/11/1979
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Nhật Bản, Aichi 28/7/1980
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng CHDCND Triều Tiên, Kangwon 8/11/1984
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Canada, Ontario 21/11/1985
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Hoa Kỳ, Tiểu bang New York 21/4/1989
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Essex 16/7/1992
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Đức, Nordrhein-Westfalen 1/8/1992
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Ý, Toscana 18/9/1992
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Nhật Bản, Fukuoka 4/11/1992
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Pakistan, Punjab 28/12/1993
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Đức, Baden-Württemberg 23/4/1994
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Hà Lan, Noord-Brabant 9/9/1994
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Hàn Quốc, Jeolla Bắc 27/10/1994
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Brasil, Minas Gerais 27/3/1996
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Ý, Veneto 22/6/1998
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Thụy Điển, Östergötland 22/3/1999
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Nga, tỉnh Moskva 20/8/1999
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Bỉ, Namur 7/5/2000
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Nam Phi, Free State 7/6/2000
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Ba Lan, Małopolskie 16/11/2000
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Phần Lan, Nam Phần Lan 11/5/2001
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Colombia, Atlántico 4/6/2001
  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Malaysia, Malacca 18/9/2002

Chú thích


Liên kết ngoài


  • Giang Tô - Honda Anh Dũng Phương tiện liên quan tới Jiangsu tại Wikimedia Commons
  • Trang web chính thức Giang Tô - Honda Anh Dũng

Tọa độ: 32°54′B 119°48′Đ / 32,9°B 119,8°Đ / 32.900; 119.800

—HDAD–

Back to top button
Call Now Button0984.131.147